Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ luôn là vấn đề được giới chiến lược, học thuật ở Trung Quốc và nước ngoài tập trung thảo luận và nghiên cứu. Nhưng những phân tích thực nghiệm cụ thể lại khá ít, tập trung quá nhiều vào lĩnh vực chính trị và an ninh. Bài viết sẽ tập trung vào sách lược cạnh tranh đầu tư cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ, phân tích mục tiêu, lộ trình và triển vọng phát triển của chiến lược này, đưa ra đánh giá mang tính thử nghiệm về tác động có thể có của chiến lược này đối với hợp tác “Vành đai và Con đường”.
Đánh giá ảnh hưởngNhìn chung, việc Chính quyền Trump ra sức thúc đẩy đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương mặc dù có lôgích là để thích ứng với sự chuyển đổi mô hình chính sách viện trợ nước ngoài và tìm kiếm lợi ích kinh tế, về khách quan có vai trò tích cực đối với việc xây dựng cơ sở hạ tầng châu Á-Thái Bình Dương, nhưng kiềm chế xu hướng phát triển của sáng kiến “Vành đai và Con đường”, làm suy yếu ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực và trên thế giới vẫn là yêu cầu cốt lõi khi Mỹ thiết kế chính sách. Nói cách khác, tuy mục đích của Mỹ khi thúc đẩy vào đầu tư cơ sở hạ tầng tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương không hoàn toàn chĩa mục tiêu vào “Vành đai và Con đường”, nhưng ứng phó với thách thức đến từ “Vành đai và Con đường” rõ ràng là ưu tiên hàng đầu của Mỹ. Trong tương lai, việc Trung Quốc thúc đẩy sáng kiến hợp tác “Vành đai và Con đường” chắc chắn sẽ phải đối mặt với sức ép cạnh tranh đến từ Mỹ và ảnh hưởng tiêu cực do sự can dự chính trị của Washington gây ra.
Làm xấu đi môi trường dư luận quốc tế về xây dựng “Vành đai và Con đường”
Khi Trung Quốc mới đưa ra sáng kiến “Vành đai và Con đường”, báo chí Mỹ và phương Tây đóng vai trò chính trong việc bôi nhọ chiến lược này và ngụy tạo hàng loạt tội danh như đó là “kế hoạch Marshall” mới, “chủ nghĩa đế quốc mới”, “ngoại giao tiền bạc”, “cái bẫy nợ”… , cố ý gây ra trở ngại cho việc Trung Quốc thúc đẩy hợp tác “Vành đai và Con đường”.
Từ khi Donald Trump lên cầm quyền đến nay, quan chức Mỹ trở thành những người công khai phỉ báng và chèn ép chiến lược “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc. Trong một bài phát biểu, Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence công khai chỉ trích Trung Quốc sử dụng “ngoại giao bẫy nợ” để mở rộng ảnh hưởng, cho rằng Trung Quốc đang cung cấp các khoản vay cho các dự án cơ sở hạ tầng trị giá hàng trăm tỷ USD cho các nước châu Á, châu Phi, châu Âu và khu vực Mỹ Latinh, do điều kiện cho vay không minh bạch, lợi ích trong đó chủ yếu chảy về phía Trung Quốc. Tại Hội nghị lãnh đạo các doanh nghiệp APEC năm 2018, Mike Pence công khai chê bai “một số quốc gia” cung cấp điều kiện cho vay xây dựng cơ sở hạ tầng không minh bạch ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và thế giới, chất lượng công trình kém. Ông khẳng định: “Mỹ sẽ cung cấp thêm một lựa chọn thay thế tốt hơn, sẽ không để nước đối tác rơi vào bẫy nợ, không làm mất quyền tự chủ của nước đối tác, không cung cấp ‘vành đai của sự trói buộc’ hoặc ‘con đường đơn phương’”. Cựu Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson cũng từng tuyên bố các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng của Trung Quốc ở khu vực châu Á khiến một số quốc gia phải gánh chịu nợ nần, những khoản đầu tư này không những không thể tạo ra việc làm cho địa phương, mà ngược lại dễ dàng dẫn đến vỡ nợ. Khi trả lời phỏng vấn, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách vấn đề Nam Á và Trung Á Alice G. Wells cho rằng trong rất nhiều tình huống, đầu tư của Trung Quốc đã gây ra gánh nặng nợ, không tạo ra cơ hội việc làm có giá trị thương mại, không mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng.
Tăng thêm trở ngại chính trị khi Trung Quốc và các nước khác triển khai hợp tác “Vành đai và Con đường”
Khi Ý có kế hoạch tham gia sáng kiến “Vành đai và Con đường”, các quan chức của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ đã nói rằng Chính phủ Ý không cần cung cấp tính hợp pháp cho công trình cơ sở hạ tầng mang tính hình tượng của Trung Quốc. Thượng nghị sĩ Marco Rubio nói rằng việc Ý tham gia “Vành đai và Con đường” để làm hài lòng Trung Quốc khiến mọi người ngạc nhiên. Ông cho biết: “Mục tiêu của Trung Quốc là thông qua các biện pháp như đánh cắp quyền sở hữu trí tuệ, bí mật thương mại và hy sinh đối tác thương mại để hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước…, làm suy yếu quốc gia nước ngoài đang muốn cạnh tranh với họ. Kinh nghiệm của Mỹ là rủi ro kinh tế và an ninh quốc gia lâu dài là quan trọng hơn nhiều so với đầu tư của Trung Quốc hoặc tăng trưởng xuất khẩu sang Trung Quốc. Nếu Trung Quốc không thay đổi mục tiêu và biện pháp, tất cả các đồng minh của Mỹ đều cần thận trọng khi tăng cường hợp tác kinh tế với Trung Quốc”. Trong vấn đề hợp tác kinh tế giữa Trung Quốc và Panama, Ngoại trưởng Pompeo công khai cảnh báo Panama rằng doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc vận hành không minh bạch và phi thị trường, mục đích của Bắc Kinh không phải là đem lại lợi ích cho nhân dân Panama mà là cho Chính phủ Trung Quốc.
Làm gia tăng sự dao động của các nước láng giềng Trung Quốc và những quốc gia đang phát triển ở khu vực khác giữa Trung Quốc và Mỹ
Từ khi cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế bùng nổ năm 2008 đến nay, Trung Quốc ngày càng trở thành động lực chính của tăng trưởng kinh tế châu Á, vị thế quốc tế và ảnh hưởng trong khu vực ngày càng gia tăng. Đồng thời, Chính quyền Obama thúc đẩy chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương”, trung tâm chiến lược không ngừng chuyển sang châu Á-Thái Bình Dương, hệ thống đồng minh và mạng lưới quan hệ đối tác của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương tiếp tục được tăng cường. Các nước vừa và nhỏ tại châu Á-Thái Bình Dương đã hình thành thói quen dựa vào Mỹ về an ninh, dựa vào Trung Quốc về kinh tế. Sau khi Donald Trump lên nắm quyền, do ông thực hiện nguyên tắc “Nước Mỹ trước tiên” và áp dụng hàng loạt chính sách đơn phương nên mối quan hệ tin tưởng lẫn nhau giữa Mỹ và đồng minh ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương bị tác động.
Tuy nhiên, lòng tin của các nước Đông Nam Á đối với Mỹ giảm đi không có nghĩa là lòng tin của họ đối với Trung Quốc tăng lên. Trên thực tế, những quốc gia vừa và nhỏ đó vẫn kỳ vọng dựa vào lợi dụng sức mạnh của Mỹ để đối trọng với Trung Quốc, sự phụ thuộc quá mức vào Trung Quốc khiến cho khu vực này hoàn toàn trở thành cái gọi là “phạm vi ảnh hưởng” của Trung Quốc. Kết quả thăm dò dư luận của Viện nghiên cứu Đông Nam Á – Yusof Ishak (ISEAS) cho thấy 68,1% số người được hỏi thiếu niềm tin vào Mỹ với tư cách là quốc gia đảm bảo an ninh khu vực và đối tác chiến lược, nhưng đồng thời cũng có 45,4% số người được hỏi cho rằng Trung Quốc sẽ trở thành quốc gia theo “chủ nghĩa xét lại” và muốn đưa Đông Nam Á vào phạm vi ảnh hưởng của họ; ngoài ra chưa đến 10% số người được hỏi cho rằng Trung Quốc là một “nước lớn ôn hòa, thân thiện”. Về mức độ tín nhiệm của các nước ngoài ASEAN, 5 nước có vị trí đứng đầu là Nhật Bản (65,9%), Liên minh châu Âu (41,3%), Mỹ (27,3%), Ấn Độ (21,7%), Trung Quốc (19,6%); mức độ không tín nhiệm là Trung Quốc (51,5%), Mỹ (50,6%), Ấn Độ (45,6%), EU (35,2%), Nhật Bản (17%). Trung Quốc và Mỹ đang đối mặt với vấn đề lòng tin ở Đông Nam Á bị giảm xuống.
Cuộc khảo sát trên chứng tỏ trong con mắt của các quốc gia Đông Nam Á, tính khó lường của Trung Quốc và Mỹ, là nhân tố chính dẫn đến sự nhầm lẫn chiến lược của các quốc gia Đông Nam Á. Một mặt, triển vọng Trung Quốc được coi là lãnh đạo khu vực cũng như quốc gia này sẽ trở thành nhà lãnh đạo khu vực như thế nào vẫn cần chờ lịch sử chứng minh; mặt khác, địa vị và phương thức lãnh đạo của Mỹ ở khu vực này đã được kiểm chứng, nhưng nhân tố khó lường lớn nhất hiện nay là nước Mỹ dưới thời Donald Trump sẽ rút khỏi châu Á ở mức độ nào. Do đó, lo ngại thực sự của các nước Đông Nam Á là trong thời điểm Trung Quốc dần đi theo hướng lãnh đạo khu vực thì Chính quyền Trump dường như thiếu quyết tâm và sẵn sàng duy trì địa vị lãnh đạo khu vực của Mỹ như chính phủ tiền nhiệm.
Trong bối cảnh đó, bất kỳ sự quay trở lại nào của Chính quyền Trump đối với chiến lược “tái cân bằng” dưới thời Obama cũng sẽ khiến các quốc gia trong khu vực cảm thấy đó là sự quay trở lại của Mỹ theo mô hình Trump. Họ đương nhiên cũng mong muốn khôi phục địa vị thích hợp được hưởng lợi cả từ Trung Quốc và Mỹ. Chính vì lý do này, các nước ASEAN đã đưa ra “Quan điểm về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương” với mục tiêu là duy trì địa vị trung tâm của tổ chức này và cân bằng giữa Mỹ và Trung Quốc.
Trung Quốc sẽ tiếp tục đối mặt với sức ép của các nước như Mỹ, Nhật Bản… trong vấn đề tiêu chuẩn đầu tư cơ sở hạ tầng
Tháng 11/2018, trong thời gian diễn ra Hội nghị APEC ở Papua New Guinea, Mỹ và Nhật Bản đã nhất trí ủng hộ việc đưa “bẫy nợ” vào “Bản hướng dẫn chất lượng đầu tư và xây dựng cơ sở hạ tầng”. Mỹ còn muốn đưa nội dung mang màu sắc của chủ nghĩa bảo hộ như cái gọi là hành động thương mại không công bằng, yêu cầu mang tính cưỡng chế trong cạnh tranh giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân… vào tuyên bố chung cuối cùng của hội nghị, dẫn đến hội nghị lần đầu tiên không đưa ra được tuyên bố chung. Mỹ cố ý thúc đẩy chương trình nghị sự ưu tiên của mình và sẵn sàng hy sinh cơ chế hợp tác kinh tế khu vực lớn nhất của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, điều này cho thấy rõ thái độ kiên định của Washington thúc đẩy cái gọi là tiêu chuẩn xây dựng và đầu tư cơ sở hạ tầng. Tháng 6/2019, Hội nghị thượng đỉnh G20 ở Osaka đã thông qua “Nguyên tắc đầu tư cơ sở hạ tầng chất lượng cao G20”. Có thể thấy thúc đẩy thực hiện tiêu chuẩn đầu tư cơ sở hạ tầng chất lượng cao có thể trở thành điểm khởi đầu để Mỹ và Nhật Bản tiếp tục chèn ép “Vành đai và Con đường”.
Mỹ thúc đẩy việc xây dựng cơ sở hạ tầng tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương với mục đích đối trọng với ảnh hưởng của “Vành đai và Con đường”, nhưng muốn đưa ra một “lựa chọn thay thế” thực sự có khả năng cạnh tranh thì vẫn đối mặt với rất nhiều trở ngại chủ quan và khách quan:
Chính trị hóa quá mức là phản tác dụng
Tổng thống Trump luôn theo đuổi nguyên tắc “Nước Mỹ trước tiên”. Ngay từ khi tranh cử, ông đã nhiều lần chỉ trích chính sách viện trợ nước ngoài của Mỹ, sau khi lên cầm quyền, đã đưa ra phương án cắt giảm viện trợ nước ngoài trên quy mô lớn. Trên thực tế, trong dự thảo ngân sách năm đầu tiên của Chính quyền Trump, OPIC từng bị coi là một trong 19 cơ quan bị giải thể, nhưng kết quả là không những chưa bị xóa sổ, ngược lại được nâng cấp lên thành USDFC, chức năng và quỹ tài chính của nó đều tăng lên. Nguyên nhân then chốt khiến Chính quyền Trump thay đổi là có cân nhắc về địa chính trị, đặc biệt là nhằm đáp ứng nhu cầu triển khai cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc.
Một trong những người đề xướng đạo luật BUILD, Chủ tịch Tiểu ban châu Á-Thái Bình Dương thuộc Ủy ban đối ngoại Hạ viện Mỹ, Ted Yoho, cho biết lý do thực sự của việc Trump đảo ngược chính sách không phải là muốn thay đổi thái độ đối với viện trợ nước ngoài mà ông mong muốn lấy đó để ngăn chặn Trung Quốc giành được quyền chủ đạo kinh tế, công nghệ và chính trị.
Việc Mỹ chính trị hóa quá mức đầu tư cơ sở hạ tầng vào Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, khiến viện trợ đầu tư với ý nghĩa kinh tế hoặc phát triển ban đầu đã trở thành một cuộc cạnh tranh được mất ngang nhau. Mỹ dựa vào sự ép buộc chứ không phải là kêu gọi duy trì sự phối hợp hoặc hợp tác của đồng minh, thậm chí coi việc những nước từ chối tham gia “Vành đai và Con đường” là một bài kiểm tra về sự trung thành đối với Mỹ. Hành động thái quá của Mỹ là sự vượt trên đối với bá quyền của họ, chắc chắn sẽ dẫn đến sự phản đối và tẩy chay của các nước đang phát triển, thậm chí là đồng minh truyền thống. Việc Ý tham gia hợp tác “Vành đai và Con đường”, Anh và Đức từ chối theo đuôi Mỹ trong vấn đề 5G, cho thấy Mỹ đã rơi vào cái bẫy chính trị do chính mình tạo ra.
Mỹ không có lợi thế so sánh trong đầu tư cơ sở hạ tầng ở các nước đang phát triển
Lịch sử cạnh tranh viện trợ đầu tư giữa Trung Quốc và Mỹ ở châu Phi có thể là dấu hiệu cho thấy triển vọng của Mỹ trong việc phát triển, thúc đẩy đầu tư cơ sở hạ tầng vào Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Trước khi Donald Trump lên nắm quyền, Mỹ từng được xếp hạng quốc gia đầu tư số 1 tại châu Phi trong thời gian dài, Trung Quốc chiếm vị trí hàng đầu trong lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng ở khu vực này. Về quy mô đầu tư, năm 2017, thế giới cam kết đầu tư cơ sở hạ tầng vào châu Phi 81,6 tỷ USD, trong đó 19,4 tỷ USD đến từ Trung Quốc, chiếm 23,8%; Liên minh xây dựng châu Phi (ICA) do tổ chức G8 trước kia thành lập là 19,4 tỷ USD, chiếm 24,1%. Về lĩnh vực đầu tư, Mỹ đầu tư tập trung vào khoáng sản, dầu mỏ, tài chính, dịch vụ, ngành dệt may, năng lượng tái tạo…; Trung Quốc đầu tư tập trung vào các lĩnh vực như cơ sở hạ tầng, giao thông, khoáng sản, dầu mỏ, khí tự nhiên. Cho dù lĩnh vực đầu tư giống nhau thì trọng điểm đầu tư của hai nước cũng có phần khác biệt, chẳng hạn như trong ngành điện lực, Trung Quốc thường đầu tư vào nhà máy điện chạy bằng nhiên liệu hóa thạch, còn Mỹ đầu tư nhiều hơn vào phát điện bằng năng lượng tái tạo. So sánh đó chứng tỏ đầu tư của Trung Quốc và Mỹ vào các nước đang phát triển phần lớn là hỗ trợ lẫn nhau, Mỹ cao giọng tuyên bố “tiêu chuẩn cao” với dư luận, nhưng trên thực tế các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vào Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ không có ưu thế lớn.
Cần quan sát tính tích cực của doanh nghiệp tư nhân Mỹ khi tham gia viện trợ đầu tư nước ngoài
Cơ chế quản lý vận hành USDFC chứa đựng xung đột lợi ích giữa chính phủ và doanh nghiệp tư nhân. Các quan chức Mỹ cho biết mục đích thành lập USDFC là khuyến khích nguồn lực tư nhân tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nhằm cung cấp cho các nước ở khu vực này lựa chọn thay thế đầu tư với vai trò chủ đạo của chính phủ. Nhưng trên thực tế, USDFC hoàn toàn do chính phủ thành lập, thành viên của hội đồng quản trị cũng chủ yếu do Tổng thống, lãnh đạo hai đảng ở quốc hội Mỹ đề cử hoặc bổ nhiệm; phương thức nhận thầu dự án chủ yếu thông qua ký kết quan hệ đối tác chính thức để triển khai hợp tác từ trên xuống dưới, việc làm này cũng khiến mục tiêu viện trợ đầu tư của chính phủ rất khó duy trì sự thống nhất với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp. Liệu các phương thức đầu tư tài chính mới có thực sự huy động tính tích cực của doanh nghiệp hay không vẫn phải chờ quan sát.
Sách lược cạnh tranh đầu tư vào cơ sở hạ tầng tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ vừa là trụ cột kinh tế quan trọng để Mỹ thúc đẩy toàn diện chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, vừa là biện pháp quan trọng để Mỹ triển khai cạnh tranh toàn diện với Trung Quốc. Về khách quan, Mỹ đưa ra sách lược đầu tư cơ sở hạ tầng “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương” có ý nghĩa tích cực nhất định để đáp ứng nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng của châu Á, nhưng do Mỹ chiến lược hóa thái quá khi giải mã “Vành đai và Con đường”, đồng thời lại chính trị hóa quá mức vận hành sáng kiến đầu tư Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nên dự báo sách lược đầu tư cơ sở hạ tầng Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ có hai tác động mang tính xu thế đối với việc Trung Quốc tiếp tục thúc đẩy hợp tác “Vành đai và Con đường”.
Trong thời gian tới, tác động tiêu cực về chính trị của Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương sẽ lớn hơn sức ép cạnh tranh kinh tế. Mỹ đã và đang ngăn chặn toàn diện “Vành đai và Con đường”, Ngoại trưởng Pompeo rất háo hức tuyên truyền về sáng kiến đầu tư cơ sở hạ tầng tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, đồng thời chỉ trích và bôi nhọ một cách công khai “Vành đai và Con đường”. Mỹ không muốn chấp nhận cũng không muốn nhìn thấy “Vành đai và Con đường” đi theo hướng thành công.
Về lâu dài, sức ép chính trị có khả năng giảm và áp lực cạnh tranh kinh tế có thể sẽ tăng lên. Để duy trì địa vị lãnh đạo thế giới của mình, Mỹ không thể dễ dàng từ bỏ định kiến cạnh tranh được mất ngang nhau. Cùng với địa vị của Trung Quốc tiếp tục tăng lên, tác động từ việc Mỹ kiềm chế và chèn ép Trung Quốc sẽ có thể quyết liệt hơn, sự bao vây của Mỹ đối với “Vành đai và Con đường” có thể sẽ tăng lên. Tuy nhiên, nếu Mỹ giữ vững định kiến “anh thua tôi thắng”, tiếp tục bao vây đối với “Vành đai và Con đường”, Washington sẽ phải đối mặt với phản ứng mạnh mẽ đến từ Trung Quốc và các đối tác phát triển khác, mất đi cơ hội để tham gia nhiều hơn vào đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á, đặc biệt là hợp tác “Vành đai và Con đường”. Trên thực tế, sáng kiến đầu tư cơ sở hạ tầng “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương” của Mỹ và sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc có sự bổ sung cho nhau mang tính nội tại. Trung Quốc về tổng thể mở rộng các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng như đường bộ, cầu, cảng biển…, còn Mỹ thì giỏi về xây dựng cơ sở hạ tầng điện lực và năng lượng, hệ thống thành phố thông minh. Tiền đề để Trung Quốc và Mỹ tránh cục diện cả hai cùng thua để quay trở lại hợp tác và cạnh tranh mang tính xây dựng là Mỹ cần nhận thức được rằng mô hình viện trợ phát triển đa dạng có lợi cho các nước đang phát triển, và trên thực tế không gây thiệt hại cho Mỹ. Washington và Bắc Kinh cần thông qua một vòng điều chỉnh chiến lược mới, tìm thấy con đường cùng chung sống giữa các nước lớn khá cân bằng giữa cạnh tranh và hợp tác, thúc đẩy trật tự cạnh tranh tốt đẹp theo hướng cộng sinh.
Theo Nghiencuuquocte