Bối cảnh thị trường đầu tư đang có vẻ yên bình. Thị trường chứng khoán (TTCK) toàn cầu đang đứng gần mức cao nhất mọi thời đại. Lợi suất trái phiếu đã ngừng giảm. Thị trường tiền tệ cũng rất bình lặng. Những “tín hiệu sợ hãi” trên thị trường hay độ biến động ngụ ý đều đang có xu hướng giảm xuống thấp hơn, và đây là dấu hiệu cho thấy giới đầu tư không hề lường trước những khả năng hỗn loạn tiềm ẩn về sau này.
Thị Trường Chứng Khoán Tiềm Ẩn Đầy Rủi Ro Dưới Lớp Bề Mặt Thăng Hoa
Sự sụp đổ này thường nằm khuất khỏi tầm nhận thức của đa số nhà đầu tư. Các sự kiện chấn động thi thoảng xảy ra chính là những lời cảnh tỉnh cho mọi người về những yếu tố bất ổn tiềm ẩn đó.
Trong những năm 1960 và 1970 tại Mỹ, việc chính phủ nước này chi tiêu quá mức và áp dụng các chính sách tiền tệ lỏng lẻo đã dẫn đến hậu quả lạm phát tăng cao. Từ giữa những năm 1980 cho đến năm 2008, vấn nạn vay nợ không kiểm soát và cùng các hoạt động tài chính mờ ám đã dẫn đến các cuộc khủng hoảng thị trường vào các năm 1987, 1992, 1995, 2001 và "cuộc đại khủng hoảng" 2007-2008. Vào năm ngoái, đại dịch Covid-19 cũng đã vạch trần ra những yếu kém trong công tác phòng bị của ngành y tế công.
Những trận “rung chấn” nhỏ như vậy thường chứa đựng những thông tin quý giá về những rủi ro âm ỉ sâu bên dưới “tảng băng trôi”. Một vài cá nhân có năng lực sẽ nhận thấy được nền tảng của thị trường đang chuyển dịch. Nhưng những người còn lại thì chọn cách phớt lờ vì những pha rung chấn như vậy đối với họ là quá nhỏ và đôi khi họ phải trả giá đắt cho điều đó.
Năm 1967, Milton Friedman đã nhấn mạnh rất rõ ràng về tác động khôn lường của những phương pháp phân tích kinh tế và chính sách công sai lầm, vì chúng có thể đẩy nhanh tốc độ gia tăng lạm phát. Hậu quả này đã thực sự xảy ra trong thập kỷ sau đó. Trong những năm 1990, Alwyn Young từng cảnh báo rằng “phép màu” tăng trưởng ở TTCK châu Á vốn được xây đắp từ những khoản đầu tư quá mức, mà lỗ hổng này chỉ lộ ra khi đồng Baht Thái Lan mất giá sâu vào năm 1997 và nổ ra làn sóng khủng hoảng nối tiếp sau đó trên các thị trường mới nổi.
Trước những rủi ro ẩn hiện mông lung như vậy, nhà kinh tế học Hyman Minsky đã dành cả sự nghiệp để hoàn thiện công trình nghiên cứu của mình nhằm chứng minh một điều rằng trạng thái ổn định sẽ dẫn đến trạng thái bất ổn. Thành quả nghiên cứu của ông đã bị phớt lờ bởi các đơn vị cho vay và giới chủ sở hữu bất động sản cũng như các ngân hàng trung ương trong giai đoạn dẫn đến "khoảnh khắc Minsky" lớn nhất thời hiện đại, hay nói cách khác là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008.
Ngày nay, bên dưới lớp bề mặt bình lặng của thị trường chứng khoán và nền kinh tế thế giới, những sự kiện rung chấn ban đầu có vẻ như chẳng liên quan đến nhà đầu tư đang dần dồn nén lại, ví dụ như đại dịch Covid-19, suy giảm đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu, chủ nghĩa dân túy, chống toàn cầu hóa cho đến màn trỗi dậy của chủ nghĩa độc tài. Hoặc có lẽ như lời mách bảo gần đây của nhà sử học Niall Ferguson, những “rung chấn” đó là biểu hiện của một dạng lầm lạc vốn đang đe dọa đến khả năng tồn tại cũng như các chuẩn mực và quy tắc của xã hội.
Mọi thị trường đều được xây dựng dựa trên chữ “tín” đầu tiên, và chúng được bảo hộ bởi hệ thống pháp quyền. Tuy nhiên, luật là do chính phủ ban hành ra. Trong một quốc gia dân chủ, luật pháp chính là khung quy ước mà tầng lớp bị trị đồng ý chấp hành theo, nhưng trong một chế độ độc tài như đâu đó ở sát Mông Cổ, luật pháp là ý chí của kẻ nắm quyền. Kể từ thế kỷ 18, các nền dân chủ và thậm chí nhiều chế độ chuyên chế đã nhận thấy những lợi ích đạt được khi họ đứng ra bảo hộ thị trường bằng cách thiết lập các chuẩn mực, quy tắc ứng xử và luật lệ để giúp bảo vệ quyền sở hữu và hỗ trợ tự do thương mại.
Chế độ dân chủ tồn tại không mấy hài hòa cùng với chủ nghĩa tư bản, nơi mà quyền “bỏ phiếu” cũng tương xứng theo mức thu nhập hoặc mức độ giàu có. Những nhà lãnh đạo độc tài có thể sẽ cảm thấy phẫn nộ, hoặc thậm chí sợ hãi trước sức mạnh của nền kinh tế tích lũy vốn. Chủ nghĩa tư bản mang lại một môi trường thịnh vượng mà phe chủ nghĩa tự do hằng ao ước, cũng như tạo ra sức mạnh kinh tế vốn có thể củng cố quyền lực cho những nhà độc tài. Nhưng chủ nghĩa tư bản cũng tạo nên sức ép cạnh tranh đối với quyền lực của chính phe lãnh đạo nhà nước tư bản.
Chiến tranh thế giới thứ nhất đã phá tan những ảo tưởng về cán cân quyền lực, tiến trình toàn cầu hóa, chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc. Trong những năm 1920 và 1930, chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát xít đã phá tan các lý tưởng của nền dân chủ Wilsonian. Không có bất kỳ sự kiện nào trong số những trận “đại hồng thủy” đó được giới đầu tư tiên đoán chính xác mặc dù chỉ có một số nhà trí thức đương thời cảm nhận được, mà nổi tiếng nhất là tác giả John Maynard Keynes của tựa sách “Hệ quả kinh tế của nền hòa bình”.
Những biểu hiện như Brexit, chủ nghĩa hoài nghi vắc-xin, phong trào phủ nhận biến đổi khí hậu, cho đến chủ nghĩa độc tài hung hăng vô lý của “nước láng giềng phương Bắc” chính là những rung chấn thời hiện đại của một thế giới vốn đã mất niềm tin vào những nguồn khai sáng như chủ nghĩa tự do kinh tế, khoa học, chủ nghĩa kinh nghiệm.
Thị Trường Chứng Khoán Tiềm Ẩn Đầy Rủi Ro Dưới Lớp Bề Mặt Thăng Hoa
Toàn cầu hóa, tên gọi mỹ miều của một “chương trình” chống đói nghèo hiệu quả nhất trong lịch sử thế giới, giờ chỉ là đề tại bị mọi người bêu xấu. Tổng thống Biden thì mong muốn cải tạo lại nhiều chính sách của vị Tổng thống tiền nhiệm Donald Trump, với ý định khôi phục trở lại vị thế của nước Mỹ dưới vai trò là tượng đài của thế giới thương mại tự do. Ở châu Á, Trung Quốc không chỉ trấn áp các lực lượng bất đồng chính kiến mà nước này cũng không dung thứ cho những ai dám cạnh tranh về kinh tế hoặc tài chính đối với quyền lực tối cao của họ.
Vương quốc Anh thì lại tự tách ra khỏi châu Âu, mặc dù họ có mối quan hệ lịch sử, văn hóa, kinh tế và tài chính to lớn với lục địa này. Châu Âu đang đứng trước thời khắc thay đổi bộ máy chính trị, mà họ dường như lại không để ý đến những rủi ro đến từ Trung Quốc.
Tuy nhiên, giá trị của các loại tài sản lại đang tăng cao, được thúc đẩy nhờ các doanh nghiệp có kết quả tài chính khả quan và chính sách tiền tệ được nới lỏng, từ đó khiến chi phí đi vay xuống thấp. TTCK chính là nơi duy nhất mang lại lợi nhuận dương dù cả nền kinh tế thế giới đang chìm ngập trong lạm phát. Như nhà kinh tế học Hyman Minsky từng chỉ ra, sự ổn định giúp đảm bảo trạng thái ổn định sẽ còn tiếp diễn. Những sự kiện “rung chấn” chỉ đơn thuần là cơ hội để nhà đầu tư mua thêm cổ phiếu với mức giá rẻ hơn.
Có lẽ điều này là hợp lý. Có lẽ ai cũng cho rằng hợp lý mới “đúng”. Theo lập luận hợp lý, dữ liệu thực tế và logic có thể sẽ khiến cho những người hoài nghi vắc-xin không còn con đường phản biện lại. Các chế độ dân chủ và chuyên quyền có thể kiềm chế sự phát triển của chủ nghĩa tư bản mà không gây tổn hại quá mức. Các quốc gia trên thế giới sẽ tìm được tiếng nói chung đúng lúc để hạn chế các mối đe dọa về thực trạng mất cân bằng đa dạng sinh học hoặc biến đổi khí hậu.
Quá khứ ẩn chứa những tín hiệu báo trước về những điều có thể xảy ra trong tương lai. Sự thay đổi đôi khi đưa xã hội theo chiều tiến hóa, nhưng đôi khi là theo chiều cách mạng. Mọi thứ sẽ không bao giờ diễn ra êm đềm mãi mãi.
Những quan điểm của Keynes, Friedman, Minsky, Young và Ferguson có vài điểm chung. Họ không có cùng quan điểm về chính trị, kinh tế hoặc ý thức hệ. Nhưng họ cùng nhận thức được một quy luật khác thậm chí còn quan trọng hơn. Những nhà kinh tế này biết khi nào nên lắng nghe, khi nào nên nhìn nhận sự việc xug quanh. Họ biết rằng không nên bỏ qua bất cứ những gì họ đã nghe và đã thấy.
Thị trường ngày nay vẫn hoạt động như thể mọi thứ sẽ mãi diễn ra như bình thường. Ai cũng hy vọng điều này là đúng. Nhưng hy vọng không phải là một chiến lược thực thụ. Đầu tư thận trọng đòi hỏi nhà đầu tư phải quan sát, lắng nghe và chấp nhận trước những rủi ro có thể phát sinh.
Đăng Khoa - theo Barron's
Xem thêm: 3 Lý Do Bạn Không Nên Sợ Thị Trường Chứng Khoán Sụp Đổ