JPMorgan Chase sẽ là đơn vị đầu tiên khởi động mùa báo cáo thu nhập của ngành ngân hàng vào ngày 14 tháng 7 tới.

Cổ phiếu của Citigroup đang giao dịch tại tỷ số giá trên giá trị sổ sách và giá trên thu nhập dự kiến thấp nhất từ trước đến nay trong số 20 ngân hàng lớn nhất Hoa Kỳ. Getty Images.
Các ngân hàng lớn sẽ bắt đầu mùa báo cáo lợi nhuận vào tuần tới, với JPMorgan Chase nổ phát súng đầu tiên trước khi thị trường chứng khoán mở cửa vào ngày 14 tháng 7.
Điều đáng chú ý bây giờ là nhóm cổ phiếu ngân hàng đang cực kỳ rẻ.
Tất nhiên vẫn còn đó nguy cơ suy thoái kinh tế và những lo lắng khác. Nhưng cổ phiếu ngân hàng đã giảm nhiều hơn so với thị trường rộng trong năm nay. Bên cạnh đó còn rất nhiều yếu tố đang tác động đến thu nhập của nhóm ngành này. Dưới đây là một số yếu tố lớn:
Vì vậy, chúng ta nên chuẩn bị trước cho một mùa báo cáo thu nhập khó khăn khác của các ngân hàng. Nhưng tình trạng này cũng có thể mở rộng cơ hội mua vào cổ phiếu của nhóm ngành này. Trong một ghi chú nghiên cứu vào ngày 7 tháng 7, nhà phân tích Kathleen Shanley của Gimme Credit nhắc lại xếp hạng "mua" đối với chứng khoán nợ do KeyCorp KEY (một trong những ngân hàng được liệt kê dưới đây) phát hành. Chuyên gia này cho rằng các bài kiểm tra căng thẳng của Cục Dự trữ Liên bang hoàn thành vào tháng 6 "cho thấy các ngân hàng lớn của Mỹ đã chuẩn bị tốt để duy trì tỷ lệ vốn mạnh ngay cả trong một kịch bản căng thẳng bất lợi nghiêm trọng."
Nếu loại trừ cổ tức, chỉ số S&P 500 (SPX) đã giảm mạnh 19,6% trong năm nay tính đến ngày 5/7. Trong khi đó nhóm ngành ngân hàng thuộc S&P 500 mất giá tới 24,6%, theo FactSet.
Nhưng còn định giá trên thu nhập thì sao? Cổ phiếu ngân hàng là một nhóm gần như luôn giao dịch ở mức định giá P/E thấp hơn so với S&P 500. Cả lĩnh vực ngân hàng và toàn bộ chỉ số đều đang giao dịch dưới ngưỡng P/E trung bình lịch sử trong năm năm qua. Nhưng trên cơ sở tương đối, nhóm cổ phiếu ngân hàng rẻ hơn so với S&P 500. Bảng dữ liệu có được từ các chuyên gia do FactSet khảo sát dưới đây sẽ thể hiện rõ điều đó.
|
Ngành/Chỉ số |
P/E dự phóng hiện tại |
P/E dự phóng trung bình 5 năm |
Định giá hiện tại so với trung bình 5 năm |
Định giá hiện tại so với S&P 500 |
Định giá trung bình trong 5 năm so với S&P 500 |
|
Lĩnh vực ngân hàng thuộc S&P 500 |
8,47 |
12,42 |
68% |
48% |
57% |
|
S&P 500 |
17,63 |
21,92 |
80% |
|
|
Các ngân hàng cũng đang giao dịch với mức giá thấp hơn một nửa P/E của toàn bộ chỉ số. Đây là điểm rất đáng chú ý, nếu dựa trên các so sánh tương tự trong 10, 15 và 20 năm:
|
Ngành/Chỉ số |
P/E dự phóng hiện tại |
P/E dự phóng trung bình 10 năm |
Định giá hiện tại so với trung bình 10 năm |
Định giá hiện tại so với S&P 500 |
Định giá trung bình 10 năm so với S&P 500 |
|
Lĩnh vực ngân hàng thuộc S&P 500 |
8,47 |
12,38 |
68% |
48% |
63% |
|
S&P 500 |
17,63 |
19,50 |
90% |
|
|
|
Ngành/Chỉ số |
P/E dự phóng hiện tại |
P/E dự phóng trung bình 15 năm |
Định giá hiện tại so với trung bình 15 năm |
Định giá hiện tại so với S&P 500 |
Định giá trung bình 15 năm so với S&P 500 |
|
Lĩnh vực ngân hàng thuộc S&P 500 |
8,47 |
13,16 |
64% |
48% |
74% |
|
S&P 500 |
17,63 |
17,67 |
100% |
|
|
|
Ngành/Chỉ số |
P/E dự phóng hiện tại |
P/E dự phóng trung bình 20 năm |
Định giá hiện tại so với trung bình 20 năm |
Định giá hiện tại so với S&P 500 |
Định giá trung bình 20 năm so với S&P 500 |
|
Lĩnh vực ngân hàng thuộc S&P 500 |
8,47 |
13,22 |
64% |
48% |
75% |
|
S&P 500 |
17,63 |
17,71 |
100% |
|
|
Điểm đáng chú ý nữa trong bảng cuối cùng là bất chấp sự sụt giảm trong năm nay, toàn bộ chỉ số S&P 500 chỉ giao dịch rẻ hơn một chút trên cơ sở P/E khi so với P/E trung bình 20 năm. Vì vậy, trong khi S&P 500 dường như phù hợp với định giá P/E điển hình, các ngân hàng dường như đang giao dịch với giá hời.
Nếu bạn tin rằng chúng ta đang chuẩn bị tiến vào một cuộc suy thoái (hoặc đã ở trong một cuộc suy thoái, vì các chỉ số kinh tế đang dần trở nên đình trệ), khuynh hướng đầu tiên của bạn có thể là tránh xa hoàn toàn cổ phiếu ngân hàng, để tránh những tổn thất tín dụng dự kiến và cổ phiếu giảm. Nhưng rồi, một lần nữa, sự sụt giảm của ngành công nghiệp và định giá P/E siêu thấp có thể cung cấp một vài tấm đệm giảm bớt những đau đớn.
Bạn mong đợi kịch bản kinh tế nào? Nếu bạn tin rằng nền kinh tế Mỹ đang chuẩn bị đi xuống, có lẽ đã đến lúc cho một số động thái thận trọng đối với danh mục đầu tư của bạn. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu những nỗ lực của Cục Dự trữ Liên bang nhằm dập tắt lạm phát mang lại kết quả? Hoặc có thể chúng ta sẽ tiến tới một đợt hạ cánh mềm?
Nhà phân tích Dick Bove của Odeon Capital Group đã viết trong một ghi chú gửi khách hàng vào ngày 1 tháng 7 rằng các động thái của Cục Dự trữ Liên bang nhằm tăng lãi suất và giảm tốc độ tăng trưởng của cung tiền Mỹ cho thấy rõ ràng ngân hàng trung ương đang "tiến tới việc thực hiện lời hứa giảm lạm phát". Trong một ghi chú khác, chuyên gia này viết rằng "rất khó, nếu không muốn nói là không thể" dự đoán mức đáy cho nhóm cổ phiếu ngân hàng.
Chuyên gia này khuyến nghị nên mua vào trong giai đoạn giá giảm vì hai lý do:
Những bình luận đó phản ánh quan điểm dài hạn trong lĩnh vực ngân hàng, đôi khi một số nhà đầu tư có thể coi là quá dài. Bove kỳ vọng giai đoạn tăng cường hoạt động sản xuất ở Mỹ sẽ là một giai đoạn dài hơi. Từ đó sẽ mang lại lợi ích cho các ngân hàng, bao gồm cả U.S. Bancorp (USB) của Minneapolis, một mã cũng được Bove khuyến nghị nên "mua". USB là ngân hàng lớn thứ tám của Hoa Kỳ tính đến ngày 31 tháng 3, với tổng tài sản trị giá 587 tỷ USD.
Và có thể các ngân hàng chính là điểm đến lý tưởng sau quá trình suy giảm và trong suốt một thời gian dài lạm phát cao. Các lĩnh vực năng lượng, tài chính và chăm sóc sức khỏe đều là những lĩnh vực có hiệu suất tốt nhất trong thời kỳ lạm phát cao những năm 1970, như Tony DeSpirito, CIO của BlackRock tại U.S. Fundamental Equities và đồng quản lý của Equity Dividend Fund lưu ý trong triển vọng về thị trường vốn chủ sở hữu Q3 của mình. Ông tin rằng cổ phiếu tài chính có thể có giá tốt hơn trong môi trường hiện tại vì "bảng cân đối kế toán ngân hàng mạnh hơn sau khi tái cấu trúc và các đợt kiểm tra căng thẳng nghiêm ngặt" sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009.
Hai bảng sau đây tóm tắt quan điểm của các nhà phân tích về 20 ngân hàng lớn nhất của Mỹ theo tổng tài sản.
Một vài ngân hàng trong đó có định giá đặc biệt thấp dựa trên ước tính thu nhập đồng thuận trong 12 tháng tới và giá trị sổ sách hữu hình tính đến ngày 31 tháng 3:
|
Ngân hàng |
Mã |
Thành phố |
Tổng tài sản (tỷ đô) |
P/E dự phóng |
Giá/giá trị sổ sách hữu hình |
|
JPMorgan Chase &Co. |
JPM |
New York |
3.955 |
9,2 |
1,6 |
|
Bank of America Corp. |
BAC |
Charlotte, N.C. |
3.238 |
8,9 |
1,5 |
|
Citigroup Inc. |
C |
New York |
2.394 |
6,8 |
0,6 |
|
Wells Fargo & Co. |
WFC |
San Francisco |
1.940 |
8,9 |
1,1 |
|
Goldman Sachs Group Inc. |
GS |
New York |
1.589 |
8,2 |
1,0 |
|
Morgan Stanley |
MS |
New York |
1.222 |
10,4 |
1,9 |
|
Charles Schwab Corp. |
SCHW |
Austin, Texas |
681 |
14,8 |
7,1 |
|
U.S. Bancorp. |
USB |
Minneapolis |
587 |
10,2 |
2,1 |
|
Truist Financial Corp. |
TFC |
Charlotte, N.C. |
544 |
9,7 |
9,7 |
|
PNC Financial Services Group Inc. |
PNC |
Pittsburgh |
541 |
10,4 |
2,0 |
|
Bank of New York Mellon Corp. |
BK |
New York |
474 |
8,9 |
2,4 |
|
Capital One Financial Corp. |
COF |
McLean, Va. |
434 |
5,5 |
1,0 |
|
State Street Corp. |
STT |
Boston |
322 |
8,1 |
1,6 |
|
SVB Financial Group |
SIVB |
Santa Clara, Calif. |
220 |
10,4 |
2,1 |
|
Fifth Third Bancorp |
FITB |
Cincinnati |
211 |
8,4 |
1,7 |
|
American Express Co. |
AXP |
New York |
196 |
14,0 |
5,7 |
|
Citizens Financial Group Inc. |
CFG |
Providence, R.I. |
192 · |
7,9 |
1,2 |
|
First Republic Bank |
FRC |
San Francisco |
187 |
16,8 |
2,2 |
|
KeyCorp |
KEY |
Cleveland |
181 |
7,3 |
1,5 |
|
Huntington Bancshares Inc. |
HBAN |
Columbus, Ohio |
177 |
8,2 |
1,4 |
|
Nguồn: FactSet |
|||||
Citigroup là ngân hàng duy nhất trong danh sách có cổ phiếu được giao dịch dưới giá trị sổ sách hữu hình ngày 31 tháng 3, theo FactSet (giá trị sổ sách hữu hình của ngân hàng là giá trị sổ sách không kể đến tài sản vô hình, chẳng hạn như lợi thế thương mại và các quyền với nghiệp vụ cho vay).
Trong một ghi chú vào ngày 16 tháng 6, Bove đã viết rằng "vị thế tương đương tiền của Citi lớn hơn vốn chủ sở hữu chung của nó" và nỗi sợ hãi suy thoái đang đè nặng trên cổ phiếu. Chuyên gia này xếp hạng Citi ở mức "mua" và gọi ngân hàng là "cửa hàng một cửa cho các tập đoàn hoạt động trên toàn cầu", vì vị trí thống trị của nó trên thị trường ngoại hối.
Cổ phiếu Citigroup đóng cửa ở mức 46,61 USD vào ngày 5/7. Mục tiêu giá của Bove với cổ phiếu là 51,35 đô la, ngụ ý cổ phiếu có tiềm năng tăng giá 10% trong 12 tháng tới.
Nhà phân tích Chris Kotowski của Oppenheimer đánh giá Citi "vượt trội" với mục tiêu giá là 81 đô la, ngụ ý tiềm năng tăng giá 74% đối với cổ phiếu. Vị này giả định nhóm các ngân hàng sẽ quay lại với định giá P/E điển hình, với Citi cuối cùng sẽ đạt 70% bội số của S&P 500. Dự báo được tính toán dựa trên cập nhật của công ty về các tổ chức tài chính/ngân hàng thương mại và đầu tư vào ngày 1 tháng 7.
Dưới đây là tóm tắt về xếp hạng của các nhà phân tích và mục tiêu giá dành cho nhóm này, một lần nữa được xếp hạng theo tài sản:
|
Ngân hàng |
Mã |
Đánh giá cổ phiếu xếp hạng "mua" |
Đánh giá cổ phiếu xếp hạng trung lập |
Đánh giá cổ phiếu xếp hạng "bán" |
Giá đóng cửa - ngày 5 tháng 7 (USD) |
Mục tiêu giá đồng thuận |
Tiềm năng tăng giá ngụ ý trong 12 tháng |
|
JPMorgan Chase &Co. |
JPM |
54% |
39% |
7% |
112,62 |
150,42 |
34% |
|
Bank of America Corp. |
BAC |
62% |
35% |
3% |
31,24 |
45,20 |
45% |
|
Citigroup Inc. |
C |
48% |
48% |
4% |
46,61 |
60,10 |
29% |
|
Wells Fargo & Co. |
WFC |
76% |
24% |
0% |
40,10 |
55,97 |
40% |
|
Goldman Sachs Group Inc. |
GS |
64% |
36% |
0% |
297,20 |
404,60 |
36% |
|
Morgan Stanley |
MS |
72% |
28% |
0% |
76,11 |
98,32 |
29% |
|
Charles Schwab Corp. |
SCHW |
78% |
22% |
0% |
63,39 |
90,67 |
43% |
|
U.S. Bancorp. |
USB |
35% |
61% |
4% |
46,46 |
57,86 |
25% |
|
Truist Financial Corp. |
TFC |
50% |
42% |
8% |
48,64 |
59,47 |
22% |
|
PNC Financial Services Group Inc. |
PNC |
46% |
50% |
4% |
161,09 |
199,15 |
24% |
|
Bank of New York Mellon Corp. |
BK |
37% |
63% |
0% |
42,08 |
50,59 |
20% |
|
Capital One Financial Corp. |
COF |
67% |
29% |
4% |
106,66 |
161,90 |
52% |
|
State Street Corp. |
STT |
50% |
50% |
0% |
63,07 |
85,60 |
36% |
|
SVB Financial Group |
SIVB |
71% |
29% |
0% |
412,41 |
644,23 |
56% |
|
Fifth Third Bancorp |
FITB |
70% |
30% |
0% |
33,70 |
45,96 |
36% |
|
American Express Co. |
AXP |
55% |
41% |
4% |
139,65 |
189,55 |
36% |
|
Citizens Financial Group Inc. |
CFG |
76% |
19% |
5% |
35,88 |
49,42 |
38% |
|
First Republic Bank |
FRC |
54% |
42% |
4% |
148,14 |
185,18 |
25% |
|
KeyCorp |
KEY |
36% |
50% |
14% |
17,38 |
23,26 |
34% |
|
Huntington Bancshares Inc. |
HBAN |
45% |
40% |
15% |
12,13 |
15,85 |
31% |
|
Nguồn: FactSet |
|||||||
Nhiều cổ phiếu ngân hàng trong số này có tỷ suất cổ tức cao.
Tuy vậy bạn nên cẩn thận thực hiện nghiên cứu của riêng mình trước khi thực hiện bất kỳ khoản đầu tư nào.
Hoàng Dương - Theo marketwatch.com