Lạm phát là sự gia tăng của giá cả hàng hóa và dịch vụ theo thời gian, làm giảm sức mua của một loại tiền nhất định. Cùng Investo tìm hiểu ngay Lạm phát là gì trong bài chia sẻ dưới đây nhé!
Inflation - Lạm phát là gì?
Inflation hay lạm phát làm giảm giá trị của 1 USD (hoặc tiền tệ khác). Và khi lạm phát tăng, tiền của bạn sẽ có sức mua thấp hơn. Các nhà kinh tế đo lường sự gia tăng hoặc giảm của lạm phát theo thời gian. Phép đo này được gọi là tỷ lệ lạm phát.
Chúng ta có thể thấy rõ sự ảnh hưởng của lạm phát trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Một số tác động này bao gồm việc tăng giá nhà ở, thực phẩm, nhiên liệu và hàng tiêu dùng. Mặc dù lạm phát nhẹ có thể có một số lợi ích, thế nhưng người tiêu dùng vẫn có xu hướng tập trung nhiều vào việc thực tế lạm phát sẽ làm tiền của họ không thể mua sắm, tiêu dùng được nhiều như trước.
Để có một ví dụ thực tế về lạm phát, hãy xem xét giá xăng. Theo Cục Thống kê Lao động của Mỹ, giá xăng đã có tỷ lệ lạm phát khoảng 3,10% mỗi năm trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2019. Vì vậy, một bình xăng có giá 20 USD vào năm 2000 sẽ khiến bạn tiêu tốn hơn 35 USD vào năm 2019. Đó là một sự gia tăng khá lớn. Tỷ lệ lạm phát đối với xăng cao hơn tỷ lệ lạm phát tổng thể ở mức 1% trong khoảng thời gian này.
Tương quan giá xăng và tỷ lệ lạm phát năm 2022 tại Việt Nam
Lạm phát giống như một lỗ rò trong thùng tiền của bạn ...
Lạm phát giống như một lỗ rò trong thùng tiền của bạn ...
Tỷ lệ lạm phát thấp tương đương với một lỗ rò nhỏ. Tỷ lệ lạm phát càng cao thì lỗ rò càng lớn. Rò rỉ càng nhiều thì giá trị tiền của bạn càng thấp – và bạn sẽ cần càng nhiều tiền để mua cùng một giỏ hàng hóa và dịch vụ trong một năm kể từ bây giờ.
Có ba nguyên nhân chính gây ra lạm phát, mỗi nguyên nhân được gọi bằng một cái tên khác nhau.
Hiệu ứng cầu kéo xảy ra khi nhu cầu cho hàng hóa và dịch vụ vượt quá nguồn cung. Người mua sẵn sàng trả nhiều hơn, và do đó các nhà cung cấp tăng giá tương ứng. Điều này tạo ra lạm phát do cầu kéo.
Hiệu ứng chi phí đẩy xảy ra khi chi phí để sản xuất một sản phẩm tăng lên. Điều này có thể bao gồm một sự gia tăng của chi phí lao động hoặc chi phí nguyên vật liệu thô để sản xuất một sản phẩm.
Khi chi phí ở một đầu của chuỗi cung ứng tăng lên, những chi phí đó thường nhỏ giọt xuống người tiêu dùng. Điều này tạo ra lạm phát do chi phí đẩy.
Loại lạm phát cuối cùng, xảy ra theo chu kỳ, là lạm phát tích hợp. Khi giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng lên, tiền lương cũng phải tăng theo. Khi tiền lương tăng, chi phí kinh doanh cũng tăng theo. Vì vậy, giá cả cũng phải tăng.
Điều này tạo ra một chu kỳ lạm phát tích hợp.
Mỗi năm, các nhà kinh tế sẽ xác định tỷ lệ lạm phát là bao nhiêu trong 12 tháng trước đó. Vì vậy, hằng năm chúng ta có thể mong đợi con số này sẽ khác nhau dựa trên những gì đang diễn ra trong nền kinh tế. Trước năm 2021, tỷ lệ lạm phát đã được duy trì tương đối ổn định ở Mỹ.
Ví dụ, tỷ lệ lạm phát năm 2019 là 1,81%. Tỷ lệ lạm phát năm 2020 là 1,23%. Tỷ lệ lạm phát năm 2021 là 4,7%.
Những con số trên áp dụng cho đồng đô la nói chung. Nhưng tỷ lệ lạm phát cũng có thể khác nhau giữa các tiểu bang. Giữa các thành phố này sang thành phố khác của nước Mỹ.
Mặc dù tỷ lệ lạm phát ở Mỹ đã duy trì ở mức tương đối nhất quán nhưng chỉ diễn ra trong vài năm qua. Tỷ lệ lạm phát 3 tháng đầu năm 2022 đã tăng lên rất cao. Tỷ lệ lạm phát so với 12 tháng trước trong tháng 3 là 8,5% và trong tháng 4 là 8,4%. Lịch sử đã chứng kiến tỷ lệ lạm phát của Mỹ tăng lên 14% vào năm 1947. Và giảm xuống âm 11% vào năm 1921. Khi lạm phát âm nghĩa là một đồng đô la hoặc một loại tiền tệ khác đột nhiên có thể mua nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn so với trong quá khứ (giảm phát). Trong nửa thế kỷ qua, chúng ta nhìn chung đã thấy lạm phát chứ không phải giảm phát giá cả.
Một mức tăng lạm phát lớn đáng kể được gọi là siêu lạm phát.
Có hai cách chính để theo dõi lạm phát: hoặc là tập trung vào người tiêu dùng với chỉ số giá tiêu dùng (CPI); hoặc là tập trung vào các nhà bán buôn với chỉ số giá bán buôn (WPI) hoặc chỉ số giá sản xuất (PPI).
Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ sử dụng chỉ số được gọi là CPI để đo lường lạm phát. Cơ quan này đo lường CPI bằng cách xem xét việc tăng (hoặc giảm) giá của hàng hóa và dịch vụ trong nhiều ngành khác nhau. Các ngành công nghiệp chính được bao gồm trong phép tính này là thực phẩm và đồ uống, nhà ở, may mặc, giao thông vận tải, giáo dục và truyền thông, giải trí, chăm sóc y tế, cùng với các hàng hóa và dịch vụ khác.
Cục Thống kê Lao động đã sử dụng CPI để theo dõi và báo cáo chi phí sinh hoạt từ năm 1913.
Chỉ số giá bán buôn (WPI) giống chỉ số giá tiêu dùng ở chỗ nó theo dõi sự thay đổi của giá hàng hóa. Tuy nhiên, thay vì theo dõi giá ở cấp độ người tiêu dùng như CPI, WPI theo dõi những thay đổi ở cấp độ bán buôn. Chỉ số này theo dõi giá hàng hóa được bán với số lượng lớn từ công ty này sang công ty khác, không phải từ một công ty đến tay người tiêu dùng.
Nước Mỹ đã sử dụng chỉ số giá bán buôn cho đến năm 1978. Sau đó, chỉ số này đã được đổi tên thành chỉ số giá sản xuất (PPI). Cách tính PPI tương tự như WPI nhưng bao gồm thêm giá các dịch vụ.
Chỉ số giá sản xuất được theo dõi bởi Cục Thống kê Lao động và được báo cáo hàng tháng.
Để tìm hiểu tỷ lệ lạm phát cho bất kỳ năm nhất định nào, bạn có thể sử dụng Máy tính lạm phát CPI của Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ (BLS). Máy tính này sẽ cho bạn biết sự thay đổi giá trị của một đô la trong một khoảng thời gian cụ thể.
BLS sử dụng phép tính sau để xác định tỷ lệ lạm phát:
Tỷ lệ lạm phát = Giá trị CPI cuối cùng / Giá trị CPI ban đầu
Các tài khoản tiết kiệm và hưu trí có thể bị ảnh hưởng nặng nề bởi lạm phát.
Đây là một ví dụ:
Giả sử bạn gửi 100,000 USD vào tài khoản tiết kiệm. Và giả sử rằng 20 năm kể từ bây giờ, tỷ lệ lạm phát tích lũy là 50%. Nếu số tiền tiết kiệm của bạn không tăng thêm 50% thì bạn sẽ mất tiền tính theo giá trị thực.
Một cách phòng ngừa rủi ro lạm phát là đầu tư vào thị trường chứng khoán. Điều này là do thị trường chứng khoán cũng có xu hướng tăng giá trị khi lạm phát gia tăng. (Lợi nhuận đầu tư không bao giờ được đảm bảo; mọi khoản đầu tư đều đi kèm với rủi ro.)
Dĩ nhiên là nền kinh tế cũng có thể bị giảm phát trong trung và dài hạn – có nghĩa là tiền trong tài khoản tiết kiệm của bạn sẽ tăng theo giá trị thực – và/hoặc thị trường chứng khoán có thể giảm trong một thời gian dài, mặc dù điều này hiếm xảy ra trong lịch sử.
Một cách khác để bảo vệ bản thân khỏi lạm phát là đầu tư vào Trái phiếu chính phủ được bảo vệ khỏi lạm phát (TIPS). TIPS là trái phiếu có rủi ro thấp được đánh giá theo chỉ số lạm phát, có nghĩa là bạn sẽ không mất tiền khi lạm phát tăng.
Hầu hết chúng ta chỉ nghĩ lạm phát là một điều tồi tệ bởi vì nó có nghĩa là mọi thứ đang trở nên đắt đỏ hơn. Tuy nhiên, lạm phát cũng có những mặt tốt.
Trước hết, lạm phát vừa phải là một dấu hiệu của tăng trưởng kinh tế. Việc lạm phát tăng một chút khi khi nền kinh tế khỏe mạnh là điều bình thường.
Có một lợi ích khác của lạm phát, mà hầu hết người tiêu dùng có lẽ sẽ thấy hữu ích. Đó là khi giá trị của một đô la giảm, giá trị của nợ cũng vậy. Thu nhập thường tăng khi lạm phát tăng. Nghĩa là khoản thanh toán nợ hàng tháng của bạn có thể chiếm một phần nhỏ hơn trong thu nhập của bạn.
Mặt xấu của lạm phát có lẽ rõ ràng hơn. Lạm phát làm giảm giá trị của một đô la. Làm cho hàng hóa và dịch vụ trở nên đắt đỏ hơn.
Mặc dù những chi phí gia tăng này luôn gây bất tiện. Chúng có thể trở nên đặc biệt nguy hiểm khi thu nhập không tăng cùng tốc độ với lạm phát.
Lạm phát cũng có thể gây bất lợi cho các tài khoản tiết kiệm và hưu trí. Số tiền bạn tiết kiệm được không đáng giá bằng khi bạn kiếm được. Điều đó có thể có nghĩa là số tiền đó sẽ không giúp ích nhiều khi bạn nghỉ hưu.
Huân Hà - Theo learn.robinhood.com