Mỹ đóng vai trò quan trọng trong việc định hình kinh tế thế giới. Do đó, các chính sách thương mại của chính quyền tiếp theo sẽ có tác động lớn tới kinh tế toàn cầu.

Một nguy cơ bất ổn lớn đang bao trùm kinh tế toàn cầu là ai sẽ trở thành tổng thống Mỹ tiếp theo. Mặc dù dân số của Mỹ chỉ chiếm 5% dân số thế giới và nước này chỉ đóng góp 15% giá trị gia tăng toàn cầu, nhưng Mỹ lại có vai trò lớn trong việc định hình kinh tế thế giới.
Chính vì thế, các chính sách thương mại của chính quyền tiếp theo, dù do phó tổng thống Kamala Harris hay cựu tổng thống Donald Trump nắm quyền, chắc chắn sẽ có tác động lan tỏa đáng kể.
Chính sách tranh cử của ông Trump nêu rõ, nếu chiến thắng, ông sẽ tăng thuế quan của Mỹ đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc lên 60% và áp thuế 10% đối với hàng nhập khẩu từ tất cả các quốc gia khác. Những chính sách này sẽ gây tổn hại nhiều nhất đến xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ. Tuy nhiên, xuất khẩu của nhiều quốc gia khác sang Mỹ cũng sẽ giảm, mặc dù một số ít những quốc gia cung cấp hàng thay thế cho hàng hóa Trung Quốc có thể được hưởng lợi.
Các nền kinh tế phụ thuộc vào chuỗi cung ứng, bao gồm Trung Quốc, cũng sẽ chịu thiệt hại. Nhiều công ty Hàn Quốc và Nhật Bản hiện xuất khẩu phụ tùng và linh kiện sang Trung Quốc, nơi chúng được lắp ráp với các phụ tùng và linh kiện do Trung Quốc sản xuất thành sản phẩm cuối cùng để xuất khẩu sang Mỹ và các quốc gia khác.
Điều này ngụ ý rằng, bất kỳ sự sụt giảm nào trong xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ cũng sẽ dẫn đến sự sụt giảm trong xuất khẩu từ Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc gia khác. Những nỗ lực để vượt qua vấn đề bằng cách chuyển chuỗi cung ứng sang Ấn Độ, Việt Nam và các nơi khác có thể bù đắp phần nào tác động này, nhưng các giải pháp như vậy có thể vừa tốn kém vừa không hoàn toàn giải quyết được vấn đề.
Tác động của cú sốc thương mại nếu ông Trump đắc cử tổng thống Mỹ sẽ không dừng lại ở đó. Nếu thuế quan cản trở tăng trưởng ở Trung Quốc, nhu cầu nhập khẩu của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới có thể giảm xuống, từ đó giáng thêm một đòn nữa vào các nền kinh tế là đối tác thương mại hàng đầu của Trung Quốc như Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Đông Nam Á.
Chính sách thuế quan mà ông Trump đề xuất cũng sẽ gây nên một số tác động mà chính Mỹ cũng không hề mong muốn. Đầu tiên, chúng sẽ cản trở xuất khẩu của Mỹ sang nhiều quốc gia, do thâm hụt thương mại của Mỹ không phụ thuộc nhiều vào chính sách thương mại của nước này mà phụ thuộc vào tình trạng thiếu hụt tiền tiết kiệm quốc gia của Mỹ so với đầu tư.
Do mức thuế mà ông Trump đề xuất khó có thể làm tăng đáng kể tiền tiết kiệm của Mỹ, nên việc giảm nhập khẩu sẽ tương ứng với việc giảm xuất khẩu. Do đó, tầm quan trọng của Mỹ với tư cách là đối tác thương mại của nhiều quốc gia khác trên thế giới sẽ giảm xuống.

Thứ hai, mức thuế của ông Trump sẽ làm suy yếu trật tự kinh tế thế giới, vốn do Mỹ dẫn đầu. Các biện pháp của ông được cho là sẽ khiến Mỹ vi phạm nghĩa vụ pháp lý đối với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Tuy nhiên, với việc Mỹ đã dành nhiều năm để làm suy yếu cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, cơ quan này khó có thể kiểm soát được chủ nghĩa bảo hộ của ông Trump.
Điều này sẽ củng cố nhận thức rằng Mỹ không tuân thủ luật lệ và sẽ khuyến khích các quốc gia khác, đặc biệt là những quốc gia đang phải vật lộn với mức độ bất bình đẳng cao, thực hiện các mức thuế trả đũa hoặc các chính sách bảo hộ khác.
Trong khi đó, cho tới thời điểm hiện tại, chính sách thương mại của bà Harris hiện vẫn chưa rõ ràng. Bà có thể sẽ ủng hộ cách tiếp cận thương mại của tổng thống Joe Biden, vốn ít thất thường hơn một chút so với ông Trump, nhưng vẫn là một “vệt đen” trong di sản chính sách kinh tế của tổng thống Biden.
Trên thực tế, việc tiếp tục duy trì các chính sách của ông Biden sẽ thúc đẩy sự suy giảm vai trò tương đối của Mỹ với tư cách là một quốc gia thương mại, chỉ là không nhanh bằng các chính sách thuế quan của ông Trump.
Tuy nhiên, vẫn còn một khả năng khác. Được truyền cảm hứng từ hai cựu tổng thống thuộc đảng Dân Chủ là Barack Obama và Bill Clinton, bà Harris có thể tìm cách khôi phục vị thế lãnh đạo của Mỹ trong thương mại toàn cầu, bao gồm việc tái gia nhập Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
CPTPP phát triển từ Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương. Cựu thổng thống Obama là một trong những nhà lãnh đạo đi đầu trong việc thúc đẩy thỏa thuận này, nhưng nó chưa bao giờ được Quốc hội Mỹ phê chuẩn, do ông Trump đã quyết định rút lui khỏi thỏa thuận này vào năm 2017, sau khi ông lên nắm quyền.
Ngoài việc mở rộng quyền tiếp cận thị trường giữa các quốc gia thành viên, CPTPP còn áp đặt các yêu cầu về thể chế ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (SOE), mua sắm của chính phủ và các quy tắc trợ cấp. Với khả năng thúc đẩy cải cách thể chế trong các quốc gia thành viên, CPTPP có thể được coi là WTO + (WTO plus).

Chính quyền của bà Harris cũng có thể đảo ngược quyết định thuế quan của các chính quyền trước đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, tương đương với thuế đánh vào người tiêu dùng Mỹ, đặc biệt là các hộ gia đình trung lưu và thu nhập thấp. Tuy nhiên, bà Harris phải có khả năng giải thích với công chúng Mỹ rằng thuế quan là một biện pháp gây tổn hại cho chính người dân Mỹ, vì chúng làm tăng chi phí sinh hoạt mà không tạo ra việc làm mới cho người lao động nước này.
Không có gì đảm bảo rằng bà Harris sẽ chọn đúng cố vấn thương mại hoặc vượt qua được áp lực bảo hộ trong đảng của bà. Tuy nhiên, nếu bà kết hợp được chính sách thương mại tương đối cởi mở với việc tái phân phối trong nước thì bà có thể mở ra sự phục hồi thương mại toàn cầu, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mỹ cũng như tăng cường vị thế lãnh đạo toàn cầu của quốc gia này.
Ngược lại, với ông Trump, có rất ít lý do để mong đợi bất cứ điều gì hơn là một cú sốc tiêu cực khác đối với thương mại toàn cầu, dẫn đến nhiều người thua cuộc hơn là người chiến thắng.
Đỗ Hiền-Theo freemalaysiatoday