Mỗi nhà đầu tư vào JPMorgan Chase & Co. (NYSE: JPM) nên có hiểu biết về những nhóm cổ đông quyền lực nhất. Chúng ta có thể thấy, các nhà đầu tư tổ chức sở hữu phần lớn công ty với tỷ lệ sở hữu lên tới 73%. Nói cách khác, tập đoàn này đối mặt với tiềm năng tăng giá (hoặc rủi ro giảm giá) ở mức tối đa.
Và mọi thứ đang có lợi đối với các nhà đầu tư tổ chức sau khi công ty tăng thêm được 18 tỷ USD vốn hóa thị trường vào tuần trước. Lợi nhuận thu về trên vốn đầu tư trong 1 năm hiện là 62% và mức sinh lời tuần trước thực sự tuyệt vời.
Hãy tìm hiểu sâu hơn vào từng nhóm chủ sở hữu của JPMorgan Chase, bắt đầu từ biểu đồ dưới đây:

Biểu đồ: Tỷ trọng sở hữu công ty
Các nhà đầu tư tổ chức thường so sánh lợi nhuận của chính họ với lợi nhuận của chỉ số thường được theo dõi. Bằng cách đó, họ có thể cân nhắc đến việc đầu tư vào các công ty lớn hơn, có tên trong chỉ số chuẩn liên quan.
JPMorgan Chase đã có nhiều nhà đầu tư trong sổ cổ phần của mình. Thật vậy, họ sở hữu một lượng cổ phần đáng kể trong công ty. Điều đó cho thấy uy tín nhất định của công ty trong giới đầu tư chuyên nghiệp.
Nhưng chúng ta không chỉ dựa vào thực tế đó, khi các nhà đầu tư tổ chức đôi khi cũng có những khoản đầu tư thất bại, giống với mọi người. Nếu nhiều tổ chức thay đổi đánh giá của họ dành cho một cổ phiếu cùng lúc, bạn sẽ được thấy giá cổ phiếu giảm cực kỳ nhanh chóng. Do đó, việc xem xét lịch sử thu nhập của JPMorgan Chase là cần thiết. Tất nhiên, tương lai mới là chuyện cần phải lưu tâm.

Biểu đồ: Tăng trưởng thu nhập và doanh thu
Khi các nhà đầu tư tổ chức sở hữu hơn một nửa số cổ phiếu lưu hành, hội đồng quản trị sẽ có xu hướng phải quan tâm đến mong muốn của họ. JPMorgan Chase không thuộc sở hữu của các quỹ phòng hộ. The Vanguard Group, Inc. là cổ đông lớn nhất của công ty với tỷ lệ sở hữu là 9,5%. Để so sánh, cổ đông lớn thứ hai sở hữu khoảng 6,7% cổ phiếu lưu hành, theo sau đó là tỷ lệ nắm giữ 4,3% của cổ đông lớn thứ ba.
Nghiên cứu sâu hơn vào dữ liệu sở hữu cho thấy 25 cổ đông hàng đầu sở hữu chưa đến 50% số lượng cổ phiếu phát hành, cho thấy đây là một nhóm lớn của các cổ đông nhỏ, mà không cổ đông riêng lẻ nào chiếm một tỷ trọng lớn.
Dù việc nghiên cứu về tỷ lệ sở hữu của tổ chức ở một công ty có thể mang thêm giá trị cho bản đánh giá của bạn, thì việc nghiên cứu các khuyến nghị phân tích để có hiểu biết sâu sắc hơn về hiệu quả hoạt động kỳ vọng của cổ phiếu cũng rất tốt. Có một số lượng vừa phải các nhà phân tích quan tâm đến cổ phiếu này, nên việc tìm hiểu về quan điểm tổng hợp về tương lai của họ có thể sẽ có ích.
Định nghĩa về người nội bộ của công ty có thể mang tính chủ quan và thay đổi giữa các khu vực pháp lý. Dữ liệu ở đây phản ánh về người nội bộ mang tính cá nhân, tối thiểu là những thành viên trong hội đồng quản trị. Ban quản lý công ty có trách nhiệm trả lời trước hội đồng quản trị và hội đồng sẽ là đại diện cho lợi ích của cổ đông. Đáng chú ý, đôi khi những nhà quản lý cấp cao nhất cũng có mặt trong hội đồng quản trị.
Việc sở hữu của người nộ bộ mang tính tích cực khi nó báo hiệu rằng những người lãnh đạo công ty đang suy tính như những người chủ thực sự. Dù vậy, tỷ lệ sở hữu nội bộ cao cũng có thể trao quyền lực to lớn vào tay một nhóm nhỏ ở công ty. Điều này, trong một vài trường hợp, có thể trở nên tiêu cực.
Dữ liệu gần đây nhất của chúng tôi chỉ ra rằng cổ đông nội bộ sở hữu chưa tới 1% JPMorgan Chase. Đây là một công ty rất lớn, nên sẽ khá bất ngờ nếu như cổ đông nội bộ có thể sở hữu một phần lớn công ty. Dù cho giá trị nắm giữ của họ chưa đầy 1%, thì chúng ta cũng có thể thấy thành viên trong hội đồng quản trị sở hữu tổng cộng tới 2,1 tỷ USD giá trị cổ phiếu (tính theo giá hiện tại). Việc thành viên hội đồng quản trị sở hữu cổ phiếu của công ty là tốt, nhưng cũng cần phải kiểm tra cả hoạt động mua vào của họ nữa.
Đại chúng, thường là những nhà đầu tư cá nhân, nắm giữ 26% cổ phần tại JPMorgan Chase. Dù cho nhóm cổ đông này không nhất thiết phải nắm quyền quyết định, nhưng chắc chắn họ có một ảnh hưởng thực sự tới cách thức điều hành công ty.
Hải Hà-Theo finance.yahoo