12 tháng trước, Nga đã gia nhập danh sách các quốc gia - cùng với Triều Tiên và Cuba - nơi người tiêu dùng không tiêu thụ các sản phẩm của Coca-Cola. "Gã khổng lồ" nước giải khát Mỹ đã rời thị trường Nga sau khi nước này tiến hành chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine. 30 năm trước, khi Coca-Cola mở rộng ở Nga sau khi Liên Xô sụp đổ, các rào cản đối với thương mại toàn cầu đã bị phá bỏ. Ngày nay chúng đang được dựng lại, không chỉ quanh nước Nga.

Bộ Tài chính Mỹ được cho là đang lên kế hoạch ngăn chặn đầu tư ra nước ngoài vào các công nghệ tiên tiến ở các quốc gia đối địch. Cơ quan này đã cấm bán các bộ vi xử lý và thiết bị sản xuất chip tiên tiến cho Trung Quốc. Thương mại Mỹ-Trung có thể đóng cửa hoàn toàn, nếu căng thẳng Trung Quốc và Đài Loan leo thang.
Đồng thời, Mỹ đang treo lơ lửng các khoản trợ cấp trị giá 500 tỷ USD, nhằm đưa chuỗi cung ứng chất bán dẫn, ô tô điện và năng lượng sạch về nước. EU dự kiến cũng tiết lộ một gói trợ cấp tương tự trong tương lai gần.
Hoạt động như một công ty đa quốc gia luôn gặp nhiều khó khăn, từ việc phối hợp giữa các múi giờ đến việc điều hướng một loạt quy định. Những căng thẳng mới nhất về thương mại toàn cầu hóa - do căng thẳng địa chính trị và chủ nghĩa bảo hộ gia tăng - đặt ra những câu hỏi hóc búa cho các tập đoàn khổng lồ của phương Tây, vốn là một trong những bên hưởng lợi nhiều nhất từ quá trình toàn cầu hóa. Những phản ứng ban đầu của họ phác thảo những đường nét của các công ty phương Tây trong thế kỷ XXI. Các tập đoàn này ít phụ thuộc vào Trung Quốc và phụ thuộc nhiều hơn vào các tài sản vô hình như phần mềm và bằng sáng chế.
Các công ty phương Tây bắt đầu vươn ra thế giới vào những năm 1600, khi các công ty thương mại thuộc địa của châu Âu rời khỏi "lục địa già" để tìm kiếm cơ hội thương mại. Vào đầu thế kỷ XX, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu, đại diện cho sự phổ biến của các doanh nghiệp đa quốc gia, dao động ở mức quanh 10% GDP thế giới.

Sau đó, vào khoảng thời gian người Nga bắt đầu sản xuất Coke tại địa phương, các tập đoàn phương Tây bắt đầu hưởng lợi từ thương mại toàn cầu hóa. Thương mại tự do hơn, chi phí vận chuyển thấp hơn và công nghệ truyền thông tốt hơn cho phép họ trở nên toàn cầu thực sự hơn. Họ thành lập cửa hàng ở bất cứ nơi nào có thể tìm thấy lao động rẻ hơn, thuế thấp hơn hoặc khách hàng mới. Đầu những năm 2010, lượng vốn FDI trên toàn thế giới đạt tương đương 30% sản lượng toàn cầu. Các doanh nghiệp phương Tây chiếm 78% tổng số. Các công ty đa quốc gia trung bình của Mỹ có hàng chục công ty con ở nước ngoài.
Các công ty Mỹ và châu Âu bắt đầu đánh mất một phần lợi thế nước ngoài của họ. Các ngân hàng bị vùi dập bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009 và cuộc khủng hoảng nợ Eurozone tiếp theo đã làm giảm hoạt động kinh doanh ở nước ngoài của họ. Các đối thủ cạnh tranh mới, đặc biệt là từ Trung Quốc, bắt đầu thách thức các công ty phương Tây. 4 trong số 5 thương hiệu điện thoại thông minh lớn nhất ở Ấn Độ hiện là của Trung Quốc. Năm ngoái, Trung Quốc đã vượt Đức trở thành nhà xuất khẩu ô tô lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Nhật Bản.
Kể từ năm 2010, doanh số bán hàng ở nước ngoài của các công ty Mỹ và châu Âu niêm yết chỉ tăng 2% mỗi năm, thấp hơn mức 8% trong những năm 2000 và 10% trong những năm 1990. Các công ty đa quốc gia đã bổ sung ít nhà máy nước ngoài hơn vào nguồn vốn FDI. Dòng đầu tư nước ngoài hàng năm của Mỹ và châu Âu đã giảm từ mức cao nhất là 659 tỷ USD vào năm 2015 xuống 216 tỷ USD vào năm 2021. Đó là mức tăng từ 156 tỷ USD vào năm 2019, trước khi dịch COVID-19 dập tắt dòng tiền này gần như hoàn toàn vào năm 2020. Từ năm 2010 đến năm 2021, tỷ trọng FDI trên toàn thế giới của phương Tây đã giảm từ 78% xuống 71%. Công ty đa quốc gia điển hình của Mỹ hiện chỉ có 9 công ty con ở nước ngoài.
Các chính trị gia ở cả hai bờ Đại Tây Dương hoan nghênh xu hướng này. Họ đang nói về sự phục hưng của ngành sản xuất trong nước và ngày càng cố gắng giảm phụ thuộc vào Trung Quốc. Trong tháng 1/2023, chi tiêu hàng tháng cho xây dựng nhà máy ở Mỹ đạt 10,9 tỷ USD, tăng 55% so với năm trước. EU hy vọng các khoản trợ cấp mới sẽ có tác dụng tương tự.

Theo Cục Phân tích kinh tế (BEA) thuộc Bộ Thương mại Mỹ, giá trị của các nhà máy và thiết bị của các công ty đa quốc gia Mỹ ở Trung Quốc đã đạt đỉnh vào năm 2018. Các chính trị gia phương Tây có thể đánh giá cao sự thay đổi này, nhưng một lý do lớn hơn có thể là lao động Trung Quốc đắt đỏ hơn. Kể từ năm 2010, tiền lương trong lĩnh vực sản xuất ở Trung Quốc đã tăng gấp bốn lần, từ 2 USD/giờ lên hơn 8 USD/giờ trên danh nghĩa.
Thị trường Trung Quốc vẫn quan trọng đối với một số lĩnh vực. Ví dụ, các công ty bán dẫn phương Tây ghi nhận khoảng 30% doanh thu từ Trung Quốc. Nhưng sản xuất chip chỉ chiếm 400 tỷ USD trong số 12.000 tỷ USD doanh thu được tạo ra ở nước ngoài bởi các công ty phương Tây đã niêm yết.
Theo ngân hàng đầu tư Morgan Stanley, nếu nhìn vào tất cả các ngành công nghiệp, Trung Quốc chiếm chưa đến 1/8 doanh thu nước ngoài của các công ty phương Tây trên toàn thế giới. Chỉ 8% tổng doanh thu của các công ty châu Âu đến từ Trung Quốc. Đối với các đối tác Mỹ, con số này là 4%.
Tính trung bình, số công ty con của doanh nghiệp Mỹ có thể giảm hơn 25% so với một thập kỷ trước, nhưng sự sụt giảm này được bù đắp nhiều hơn bởi số lượng công ty có sự hiện diện ở nước ngoài. Dữ liệu BEA cho thấy, con số này đã tăng từ 2.300 công ty vào năm 2010 lên hơn 4.600 công ty vào năm 2020.
Vào ngày 13/3, có thông tin chuỗi thức ăn nhanh Chick-fil-A (Mỹ) có kế hoạch chi 1 tỷ USD để mở rộng ở châu Á và châu Âu. Các công ty lớn nhất vẫn đang duy trì sự hiện diện lớn ở nước ngoài. General Motors, một nhà sản xuất ô tô ở Detroit, vẫn tự hào có hơn 100 công ty con ở nước ngoài.

Doanh nghiệp phương Tây cũng không từ bỏ sản xuất ở nước ngoài. Apple và Adidas đang tăng cường tìm nguồn cung ứng iPhone và giày thể thao của họ từ những nơi có địa chính trị thân thiện như Ấn Độ và Việt Nam, nơi mức lương chỉ bằng 1/3 so với ở Trung Quốc. Tỷ phú Elon Musk mới đây thông báo rằng Tesla sẽ xây dựng một nhà máy mới ở Monterrey, Mexico, một địa điểm có mức lương thấp nằm cạnh trụ sở của công ty ô tô bên kia biên giới ở Texas.
Những công ty toàn cầu đó đang ngày càng theo đuổi nhiều thứ hơn là chỉ lao động chân tay giá rẻ. Tiến bộ công nghệ có nghĩa là tài sản hiệu quả nhất của nhiều công ty hiện nay không phải là nhà máy và thiết bị vật chất mà là tài sản vô hình như chương trình máy tính và bằng sáng chế. Điều này làm tăng lợi tức đầu tư vào nhân tài, đặc biệt là ở những nơi mà lực lượng lao động có trình độ học vấn đòi hỏi mức lương thấp hơn ở phương Tây.
Các công nghệ như băng thông rộng nhanh hơn, cuộc gọi video và điện toán đám mây giúp cho nguồn tài năng này dễ dàng được khai thác hơn bao giờ hết. Chuyên gia Richard Baldwin của Viện cao học Geneva dự đoán, việc chuyển công việc văn phòng sang nước ngoài sẽ tạo cơ sở cho một làn sóng toàn cầu hóa mới giống như sự phân tán của ngành sản xuất những thập kỷ trước.
Nhà phân tích Jimit Arora của công ty tư vấn Everest lưu ý, các công ty đa quốc gia đã bắt đầu suy nghĩ rộng hơn về những nhiệm vụ có thể được thực hiện ở nước ngoài. Chi tiêu của các công ty đa quốc gia Mỹ cho nghiên cứu và phát triển (R&D) ở các quốc gia có chi phí thấp tăng gần gấp đôi giai đoạn 2010 - 2020. Tháng 11/2022, Boeing tuyên bố sẽ xây dựng cơ sở R&D trị giá 200 triệu USD tại thành phố Bangalore của Ấn Độ, cơ sở lớn nhất bên ngoài nước Mỹ. Những gã khổng lồ công nghệ Mỹ như Alphabet, Amazon và Microsoft cũng đã mở các trung tâm R&D trong thành phố. Chuỗi siêu thị Walmart (Mỹ) và nhà sản xuất động cơ máy bay Rolls-Royce (Anh) cũng vậy.

Tầm quan trọng của tài sản vô hình sẽ chỉ tăng lên, khi các doanh nghiệp tái tạo lại chính họ cho kỷ nguyên kỹ thuật số. “Gã khổng lồ” Siemens (Đức) đã tự gọi mình là "công ty công nghệ" tập trung vào mô phỏng kỹ thuật số, phân tích dữ liệu… Walmart hiện sử dụng khoảng 25.000 chuyên gia công nghệ.
Do phần mềm có xu hướng tốn kém để xây dựng nhưng lại rẻ để tái sản xuất, các công ty lớn có thể dàn trải chi phí phát triển cố định sẽ được hưởng lợi thế cạnh tranh lớn hơn bao giờ hết. Các công ty đa quốc gia có thể dàn trải những chi phí đó một cách rộng rãi nhất. Từ năm 1990 đến năm 2021, lợi nhuận trung bình trên vốn chủ sở hữu của các công ty niêm yết ở Mỹ và châu Âu có doanh thu dưới 1 tỷ USD đã giảm từ 8% xuống 4%. Con số này ở các công ty có doanh thu từ 10 tỷ USD trở lên đã tăng từ 12% lên 18%.
Năm 2021, các công ty niêm yết của Mỹ và châu Âu với doanh thu hơn 10 tỷ USD đã tạo ra trung bình 43% doanh số bán hàng của họ ở nước ngoài. Các đối thủ trên thị trường cạnh tranh đang bám sát, rút lui không phải là một lựa chọn cho các công ty phương Tây đang dẫn đầu thị trường hiện nay.
Yến Anh-Theo economist