Trong những năm "sống chung" với Covid, thế giới đã chứng kiến nhiều lần khủng hoảng thiếu hụt trầm trọng. Từ khẩu trang, giấy vệ sinh đến chip bán dẫn… Nhưng hóa ra, mọi việc đều bắt nguồn từ việc các ông chủ doanh nghiệp muốn giảm tối đa lượng hàng tồn kho.
Kệ hàng trống trơn của Target, kể Từ Khi Covid-19 Xuất Hiện
Khi kể về cách thế giới hiện đại được xây dựng, Toyota nổi lên như một tượng đài trong đẩy mạnh hiệu quả sản xuất. Hãng sản xuất ôtô của Nhật Bản đi tiên phong với phong cách sản xuất "Cần là có" (Just in time). Các bộ phận được chuyển đến nhà máy ngay khi chúng được yêu cầu, có nghĩa là giảm thiểu việc tích trữ.
Nửa thế kỷ qua, cách sản xuất này được áp dụng trên khắp thế giới, từ thời trang đến chế biến thực phẩm và cả dược phẩm. Các công ty sử dụng "Just in time" để giúp họ trở nên linh hoạt, dễ dàng thích ứng với các thay đổi về nhu cầu của thị trường và giảm thiểu chi phí.
Nhưng Covid-19 đã thách thức công thức giúp giảm thiểu hàng tồn kho này, đồng thời làm dấy lên lo ngại một số ngành đã cắt giảm quá mức, khiến chúng trở nên dễ bị gián đoạn. Đại dịch đã cản trở việc vận hành của các nhà máy, việc vận chuyển hàng hóa trên toàn cầu, nhiều nền kinh tế đã trở nên điêu đứng do thiếu hụt nhiều loại hàng hóa - từ đồ điện tử đến gỗ hay thậm chí quần áo.
Ở giai đoạn kinh tế toàn cầu có nhiều biến động thất thường, "Just in time" đang trở nên lỗi thời.
Sự thiếu hụt trong nền kinh tế thế giới còn đến từ các tác nhân khác ngoài tinh giảm hàng tồn kho. Sự lây lan Covid-19 đã làm các công nhân cảng và tài xế xe tải phải nghỉ việc, cản trở việc xếp dỡ và phân phối những hàng hóa được sản xuất tại châu Á và vận chuyển đến châu Âu cũng như châu Mỹ bằng đường biển.
Đại dịch cũng làm chậm việc sản xuất của các xưởng cưa, gây ra tình trạng thiếu gỗ xẻ, cản trở việc xây nhà ở Mỹ.
Các cơn bão mùa đông làm những nhà máy hóa dầu trên Vịnh Mexico phải đóng cửa khiến các sản phẩm chủ lực bị thiếu hụt. Andrew Romano, người điều hành việc bán hàng tại một nhà máy hóa chất bên ngoài Philadelphia, đã quen với việc bảo khách hàng phải đợi để nhận được những gì họ đã đặt.
Nhiều doanh nghiệp kết hợp cách sản xuất "Just in time" và việc phụ thuộc vào nguồn cung từ các quốc gia có mức lương thấp như Trung Quốc và Ấn Độ. Do đó, bất cứ gián đoạn nào trong việc vận chuyển toàn cầu cũng ngay lập tức trở thành một rắc rối. Điều đó cũng làm tăng thiệt hại khi có bất cứ thứ gì không như ý - như khi con tàu chở hàng khổng lồ bị mắc kẹt tại kênh đào Suez, bịt kín con đường chính kết nối châu Âu và châu Á.
Thay vì tăng khả năng sản xuất, các công ty lại tiếp tục giảm thiểu chi phí hàng tồn kho và dùng khoản tiết kiệm đó vào việc mua lại cổ phiếu. Việc mua lại cổ phiếu làm giảm số lượng cổ phiếu đó trên thị trường, làm tăng giá trị của nó.
Cái giá của việc làm đó có thể dễ dàng thấy được trong làn sóng đầu tiên của đại dịch, khi các nền kinh tế lớn bao gồm cả Mỹ phát hiện ra rằng họ thiếu khả năng để nhanh chóng chế tạo máy thở.
Khi đại dịch bắt đầu, các hãng sản xuất ôtô cắt giảm lượng đặt hàng chip vì họ tin rằng nhu cầu xe sẽ giảm xuống. Và khi họ nhận ra nhu cầu đang được phục hồi thì đã quá muộn. Việc tăng cường sản xuất chip phải mất hàng tháng.
Thật ra không cần một đại dịch để làm lộ ra những rủi ro của việc quá phụ thuộc vào cách sản xuất "Just in time" và chuỗi cung ứng toàn cầu. Các chuyên gia đã cảnh báo những hậu quả của nó trong hàng thập kỷ.
Năm 1999, một trận động đất làm rung chuyển Đài Loan, ngưng trệ việc sản xuất chip. Năm 2011, thảm họa kép tại Nhật Bản đóng cửa nhiều nhà máy và cản trở việc vận chuyển, tạo ra sự thiếu hụt về các bộ phận tự động và chip máy tính. Cùng năm đó, lũ lụt tại Thái Lan tàn phá việc sản xuất ổ cứng máy tính.
Mỗi thảm họa đều nhắc nhở các công ty phải tăng lượng hàng tồn kho và đa dạng hóa nguồn cung.
Cao Đạt - Theo NewYork Times