logo
VN_discover-our-tight-spreads_1170x250.png
Theo dõi investo trên google news

thứ ba, 23/01/2024

Triển vọng kinh tế vĩ mô năm 2024

Hóa ra suy thoái sẽ không bao giờ xảy ra trong năm nay, mặc dù tại thời điểm này, tưởng chừng như nó đang lẩn khuất đâu đây.

Triển vọng Vĩ mô năm 2024

Hẳn người đọc còn nhớ đến khủng hoảng ngân hàng quốc gia… hay xung đột trần nợ công có nguy cơ khiến nước Mỹ vỡ nợ và dẫn đến việc Fitch hạ xếp hạng nợ của nước này… hay lãi suất trái phiếu kỳ hạn 10-năm của Mỹ tăng vọt lên trên 5% khi thị trường lo lắng về ngưỡng nợ và chi tiêu của chính phủ?

Nhìn vào số liệu hiện tại, dường như hầu hết những căng thẳng cung – cầu do Covid gây ra cuối cùng đã giảm bớt. Việc làm trở về trạng thái “bình thường” và làm phát thì đang sụt giảm (nhanh chóng).

Triển vọng Vĩ mô năm 2024

Chuỗi cung ứng đã ổn định, lạm phát giảm nhanh và được cho sẽ giảm xuống gần 2% vào cuối năm 2024

Tất cả điều đó để lại một câu hỏi lớn cho thị trường: Lãi suất của FED có thể cao được đến đâu?

Và giờ có vẻ như chúng ta cũng đã có câu trả lời: 5.25% đến 5.50%. 

2024 sẽ là năm lãi suất cắt giảm: Sớm đến đâu và nhiều mức nào?

Khi phần lớn dữ liệu bị chậm lại, câu hỏi lớn cho năm 2024s sẽ là khi nào việc cắt giảm lãi suất sẽ bắt đầu và mức giảm sẽ là bao nhiêu.

Hiện tại, các thị trường đang dự định lần cắt giảm đầu tiên sẽ vào tháng Tư và 150 điểm cơ bản sẽ được cắt tính đến cuối năm 2024, đưa lãi suất ngắn hạn về ngưỡng 4.0%.

Triển vọng Vĩ mô năm 2024

Lãi suất dự kiến giảm trong năm 2024, dù chưa trở về ngưỡng 0

Điều đó nhất quán với tình trạng lạm phát giảm và nền kinh tế hạ cánh mềm, nơi tăng trưởng vẫn dương và tỷ lệ thất nghiệp thấp. Nhưng khác xa so với ngưỡng lãi suất bằng 0 mà chúng ta được chứng kiến trước Covid.

GDP dự báo chậm chạp, không phải trì trệ

Một số nhân tố hiện tại đang hỗ trợ cho việc hạ cánh mềm. Tiền lương thực nhận đang tăng lên, hỗ trợ chi tiêu của người tiêu dùng, thậm chí khi tiết kiệm cho Covid đang dần cạn. Điều đó, đổi lại, đã giữ cho số lượng việc làm ở mức cao và doanh số công ty tiếp tục gia tăng.

Kết quả là, GDP của Mỹ bất ngờ vẫn được duy trì mạnh mẽ (đối ngược với những gì chúng ta chứng kiến ở châu Âu).

Triển vọng Vĩ mô năm 2024

GDP của Mỹ mạnh mẽ hơn so với châu Âu.

Mặc dù vậy, sự đồng thuận đã khiến nền kinh tế chậm lại đáng kể vào năm 2024. Bởi một vài lý do.

Dịch vụ yếu và sản xuất đang trong thời kỳ suy thoái

Các chỉ số dịch vụ và sản xuất hiện đang ở mức cao hậu Covid. Thực tế, chỉ số PMI sản xuất cho thấy lĩnh vực hàng hóa đang ở trong giai đoạn suy thoái hơn một năm nay (đường màu đỏ, trong biểu đồ bên dưới, hiện ở dưới ngưỡng 50). Các dữ liệu khác cho thấy sự yếu kém trong các đơn đặt hàng tương lai cũng như ý định tuyển dụng của các công ty sản xuất.

Thậm chí tăng trưởng dịch vụ cũng suy giảm và giờ thì thấp hơn cả mức thấp tiền đại dịch (đường màu xanh lá).

Mặc dù vậy, với gần 80% kinh tế Mỹ thuộc ngành dịch vụ - giá trị ròng của cả hai chỉ số vẫn cho thấy sự tăng trưởng (hay nói cách khác “không có suy thoái”).

Triển vọng Vĩ mô năm 2024

Hoạt động dịch vụ và sản xuất đã bình thường hóa sau mức đỉnh Covid

Việc làm vẫn đang chậm

Trong quá trình tích cực phục hồi từ Covid, điều chúng ta thấy trong các chỉ số nêu trên, mỗi cá nhân đang tìm kiếm việc làm từng có hai công việc. Dữ liệu cho thấy mức lương ở Mỹ đã tăng, đặc biệt trong các lĩnh vực tái-tuyển-dụng khi các hình mẫu chi tiêu được thay đổi, như giải trí và khách sạn, giáo dục và sức khỏe.

Điều đó giúp người lao động tăng lương thực nhận – bất chấp lạm phát cao – điều đã giúp đỡ chi tiêu của người tiêu dùng. Mặc dù vậy, đặc biệt ở Mỹ, lương cao sẽ gia tăng chi phí cho các công ty, làm giảm lợi nhuận của họ.

Ngược lại, châu Âu sau đó chứng kiến lạm phát nhiều hơn – bởi vị trí gần với cuộc chiến tranh tại Ukraina và tác động của nó lên giá năng lượng trong nước. Trong thời kỳ Covid, châu Âu cũng hỗ trợ giữ chân người lao động trong khi các doanh nghiệp đóng cửa, làm giảm số lượng tái tuyển dụng cần thiết khi doanh nghiệp mở cửa trở lại. Cả hai yếu tố này đều trì hoãn chu kỳ lạm phát tiền lương, hiện chỉ đang ảnh hưởng vào lạm phát và lợi nhuận của công ty.

Triển vọng Vĩ mô năm 2024

 Mức lương tại Mỹ đang chậm lại nhanh chóng, chậm hơn cả châu Âu nơi lạm phát vẫn dai dẳng

Nhìn chung, có những dấu hiệu cho thấy thị trường việc làm đang trở lại mức “bình thường”. Chúng tôi đã thấy hoạt động tuyển dụng, nghỉ việc, và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động trở lại mức tiền đại dịch. Tuy nhiên, tỷ lệ sa thải vẫn khá thấp.

Dù cho tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ vẫn ở mức thấp lịch sử, nhưng nó đã bắt đầu tăng lên. Cho đến nay, việc tăng lên chủ yếu là do tiền lương cao hơn đang mang mọi người trở lại thị trường lao động (vốn là một điều tốt). Nhưng dữ liệu khảo sát cho thấy người lao động đang dần kém tự tin và cảm thấy tìm việc làm đang ngày khó khăn hơn (đường màu đỏ phía dưới). Trong lịch sử, đó là dấu hiệu cho thấy tỷ lệ thất nghiệp rồi cũng sẽ tăng (đường màu xanh dương bên dưới).

Triển vọng Vĩ mô năm 2024

Khi tỷ lệ thất nghiệp tăng, thường sẽ rất nhanh và rất nhiều

Đây là một xu hướng cần theo dõi, khi chúng ta thấy rằng tỷ lệ thất nghiệp hiếm khi tăng nhẹ. Thay vào đó, nó có thể biến thành một sự tăng trưởng mạnh mẽ, đủ để giảm sự tự tin của của người lao động. Đổi lại, điều đó mang đến mức chi tiêu thấp hơn và công ty cần phải cắt giảm nhân sự, điều có thể bắt đầu một vòng lặp phản hồi với kết quả là suy thoái kinh tế (vùng xám ở trên).

Chi tiêu của người tiêu dùng giảm

Chi tiêu tiêu dùng mạnh mẽ là nguyên nhân chính khiến nền kinh tế trở nên mạnh mẽ đến mức đáng kinh ngạc trong năm 2023. Nhu cầu của người tiêu dùng không chỉ theo kịp lạm phát, mà còn giúp doanh nghiệp tăng daonh thu (dù không có lợi nhuận).

Mặc dù vậy, một số quan điểm cho rằng tiền tích lũy trong đại dịch Covid đã thực sự cạn kiệt đối với các hộ gia đình thu nhập thấp. Điều đó được củng cố bởi thực tế là việc chi tiêu thẻ tín dụng đã gia tăng, và dư nợ đã đạt mức kỷ lục mới là 1.1 nghìn tỷ USD. Mặc dù vậy, nhờ thu nhập đã tăng lên, tỷ lệ nợ trên thu nhập vẫn thấp hơn nhiều so với ngưỡng kỷ lục.

Như biểu đồ dưới đây cho thấy, tỷ lệ nợ quá hạn cũng đang gia tăng đối với thẻ tín dụng (đường xanh lam) và các khoản vay mua ô tô (đường xanh lá). Cả hai đều đang cao hơn so với mức tiền đại dịch, nhưng lại thấp hơn nhiều so với mức khủng hoảng tín dụng. Điều đó dường như ám chỉ rằng người tiêu dùng sẽ không thể chi tiêu thoải mái trong năm 2024.

Triển vọng Vĩ mô năm 2024

 Áp lực người tiêu dùng tăng cao khi tỷ lệ nợ quá hạn của thẻ tín dụng và vay mua ô tô tăng

Nhà ở vẫn chưa rõ ràng (theo cả nghĩa tốt lẫn xấu)

Nhà ở là nơi mà những cú siết của Covid vẫn ảnh hưởng đến thị trường.

Đầu tiên, chúng ta nhận thấy tỷ lệ quá hạn các khoản vay thế chấp (đường màu tím bên dưới) vẫn ở mức thấp. Bất chấp lãi suất vay thế chấp đã tăng gần gấp 3 lần, lên gần ngưỡng 8% trong thời gian gần đây.

Dữ liệu cho thấy phần lớn chủ nhà đều không bị ảnh hưởng tương đối bởi lãi suất gia tằng vì họ đã vay thế chấp trong dài hạn với lãi suất cố định, với mức bình quân khoảng 3.6%, khi lãi suất vay thế chấp còn thấp.

Điều đó nghĩa kế hoạch giảm chi tiêu bằng cách tăng lãi suất của FED không có hiệu quả như mong đợi.

Điều đó cũng có nghĩa là người tiêu dùng vẫn còn tiền trong túi, giúp hỗ trợ chi tiêu.

Mặc dù vậy, nó không tốt cho bất kỳ ai đang cố gắng chuyển đi. Từ bỏ một khoản vay thế chấp 3.6% và thêm một khoản vay thế chấp mới có lãi suất hơn 7% một năm là quá tốn kém. Điều đó khiến cho hầu hết các chủ nhà ở lại, và giữ nguồn cung nhà hiện ở mức thấp nhất lịch sử (đường màu cam trong biểu đồ bên dưới).

Ngược lại, điều đó lại gây bất lợi cho bất kỳ ai đang cố gắng mua nhà. Đối với họ, không chỉ lãi suất vay thế chấp cao hơn, mà việc thiếu nguồn cung có nghĩa là giá thị trường vẫn ở mức cao (vùng xanh lá trong biểu đồ bên dưới).

Điều đó khiến những người muốn sở hữu một căn nhà cần nỗ lực tìm kiếm hơn một công trình xây dựng mới. Kết quả là, việc xây dựng một khu dân cư và các chủ thầu xây dựng đã phát triển mạnh mẽ. Thực sự bất thường trong môi trường lãi suất cao.

Triển vọng Vĩ mô năm 2024Nhu cầu cho ngôi nhà mới đang gia tăng cực kỳ mạnh mẽ, cân nhắc đến chi phí mua nhà

Các doanh nghiệp cũng dẫn tiếp cận được cái khoản tái cấp vốn với lãi suất cao

Một điều nữa, lãi suất cao hơn sẽ ảnh hưởng đến các công ty.

Bằng cách gia tăng lãi suất, FED đã hy vọng làm tăng chi phí của doanh nghiệp, từ đó cắt giảm chi tiêu của họ.

Thú vị là, mặc dù số lượng các vụ phá sản gia tăng, dữ liệu cho thấy rất ít trường hợp bị ảnh hưởng bởi lãi suất. Thay vào đó, tỷ lệ phá sản tạm lắng bởi các khoản vay theo Chương trình Bảo vệ Tiền lương (Paycheck Protection Program hay PPP) - nên đây có thể là một “sự bắt kịp” đối với các doanh nghiệp đã thất bại trước đó.

Điều đó không có nghĩa lãi suất không phải là mối lo ngại đối với các công ty.

Lãi suất khó có thể quay trở về ngưỡng gần bằng 0. Điều đó khiến cho các công ty sẽ có chi phí vốn bình thường hơn trong tương lai. Khi khoản vay đến hay, nó sẽ cần được tái cấp vốn bằng một lãi suất mới cao hơn. Điều đó, đổi lại, sẽ làm tăng chi phí lãi vay và giảm tỷ suất lợi nhuận.

Mặc dù vậy, dữ liệu cho thấy các khoản vay sẽ đến hạn ở tốc độ vừa phải. Ví dụ, dữ liệu từ Bloomberg trong biểu đồ bên dưới cho thấy:

  • Các công ty vốn hóa lớn cần tái cấp vốn dưới 10% số nợ hiện hành trong năm tới.
  • Các công ty vốn hóa nhỏ sẽ chỉ cần tái cấp vốn khoảng 5% dư nợ hiện hành.

Điều này giúp công ty có thêm thời gian để chờ cho lãi suất giảm, trước khi phần lớn các khoản nợ cần được tái cấp.

Triển vọng Vĩ mô năm 2024

 Lịch trình tái cấp vốn của doanh nghiệp theo thời gian hạ lãi suất

Trên thực tế, chúng ta cũng thấy dữ liệu gợi ý rằng các công ty cần được tái cấp vốn hiện đang sử dụng nợ rất-ngắn-hạn – có xu hướng hy vọng rằng họ có thể tái cấp trong một hoặc hai năm với lãi suất tốt hơn nhiều.

Công ty được hưởng lợi từ chi tiêu, nhưng bị ảnh hưởng bởi chi phí gia tăng

Nhìn vào lợi nhuận S&P 500, chúng ta thấy rằng doanh thu của các công ty đã liên tục tăng trưởng trong vòng 2 năm qua, phù hợp với mức chi tiêu tiêu dùng mạnh mẽ (đường màu đen bên dưới).

Mặc dù vậy, các công ty phải chịu ảnh hưởng từ suy thoái thu nhập từ đầu năm 2023. Dường như chủ yếu là bởi chi phí gia tăng, bao gồm cả tăng lương, khiến cho tỷ suất lợi nhuận giảm (đường và hộp màu xanh dương trong biểu đồ bên dưới).

Triển vọng Vĩ mô năm 2024

Thu nhập được kỳ vọng cải thiện khi giảm phát và hạ lãi suất thúc đẩy tỷ suất lợi nhuận

Điều quan trọng là thu nhập tại Mỹ được kỳ vọng sẽ tăng gần 12% trong năm 2024.

Chúng ta có thể thấy xu hướng đó bắt đầu trong quý 3, với thu nhập đạt được mức đỉnh mới, thoát khỏi suy thoái thu nhập so với năm trước đó. Thêm nữa, mức tăng thu nhập quý 3 là trên diện rộng – với 8 trên 11 lĩnh vực có tăng trưởng – và đặc biệt mạnh mẽ ở lĩnh vực tiêu dùng.

Triển vọng Vĩ mô năm 2024

 Tăng trưởng thu nhập quý 3 dương, dự kiến kéo dài sang quý 4 và năm 2024

Trong năm 2024, chăm sóc sức khỏe, năng lượng và vật liệu cũng được cho là sẽ phục hồi. Mặc dù với những hạn chế phía người tiêu dùng, thì chúng ta cũng đã đề cập đến thu nhập của lĩnh vực tiêu dùng – xây dựng sẽ ở mức khiêm tốn.

Định giá thị trường có thể đã bao gồm mức tăng thu nhập và hạ lãi suất

Điều này có ý nghĩa gì đối với thị trường?

Không giống như năm trước, khi đồng thuận Phố Wall cho rằng S&P 500 sẽ giảm 1.7% trong năm 2023 (thực tế là không phải vậy), thì năm 2024 quan điểm đồng thuận cho rằng S&P 500 sẽ tăng 3.5%.

Mặc dù vậy, định giá cổ phiếu vốn hóa lớn ở Mỹ đang tương đối cao khi tính đến thu nhập và lãi suất hiện hành. Nên có vẻ như cổ phiếu có thể đã được định giá bao gồm mức tăng thu nhập kỳ vọng và sụt giảm lãi suất.

Do đó, thị trường có thể hoạt động theo con đường mà Goldman Sachs đã gợi ý ở bên dưới, tại đó thị trường chủ yếu đi ngang trong nửa đầu năm khi chúng ta chờ xác nhận về tăng trưởng thu nhập và lãi suất hạ thấp, trước khi nửa cuối năm phục hồi với GDP toàn câu bắt đầu tăng trở lại.

Triển vọng Vĩ mô năm 2024

 Thị trường kì vọng sinh lời trong năm 2024, khi định giá được bình thường hóa

2024: Năm của sự điều độ

Khi chúng ta bước vào năm 2023, nó đã được cho là năm của suy thoái. Thay vào đó, nó trở thành năm mà kinh tế phục hồi. Mặc dù lãi suất cao, nhưng chi tiêu tiêu dùng và lao động mạnh mẽ đã thúc đẩy tăng trưởng GDP và doanh thu công ty.

Việc thiết lập cho năm 2024 (hiện tại) không quá thú vị. Hầu như mọi “căng thẳng” từ Covid đã gần như mất hết.

Điều đó khiến chúng ta phải đối mặt với một thị trường chậm chạp hơn trong năm nay. Một vài dự báo GDP đưa ra mức tăng trưởng dưới 1% một năm. Cùng với lạm phát giảm từ 3.1% (hiện tại) xuống gần với mục tiêu 2% của Fed, và đó là lý do để nghĩ rằng lãi suất có thể giảm đáng kể.

Dựa trên nghiên cứu trước đây của chúng tôi về nhân khẩu học và lao động cao tuổi ở Mỹ, mức lãi suất mà cao hơn khoảng 1% so với lạm phát, sẽ là điểm phù hợp để có một sự hạ cánh mềm. Trên cơ sở đó, vào cuối năm 2024, mức lãi suất hạ thấp xuống còn 3.5% là hợp lý, cũng có nghĩa mức cắt giảm có thể lên tới 2% trong năm 2024.

Tất cả những điều đó giúp cho Fed triển khai kế hoạch hạ cánh mềm – thậm chí có thể giúp bình thường hóa thị trường bất động sản.

Nếu mọi thứ mà chậm hơn cả tốc độ này, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp sẽ lại gia tăng hay chi tiêu tiêu dùng chậm lại, thì lãi suất có thể còn giảm nhanh hơn nữa.

Hải Hà-Theo nasdaq

Investo - Kênh thông tin chứng khoán Mỹ và chứng khoán thế giới hàng đầu Việt Nam. Cập nhật liên tục tin tức, phân tích và nhận định về chứng khoán Mỹ cùng những diễn biến mới nhất của thị trường tài chính toàn cầu.

Ý kiến

Cùng chuyên mục

TheBrokers.vn_Banner_365x570.png